Trong quá trình tìm hiểu về chính sách an sinh xã hội, nhiều cá nhân có thắc mắc về việc chuẩn bị hồ sơ pháp lý khi thuộc nhóm đối tượng thu nhập thấp tại khu vực đô thị. Cụ thể, trường hợp một cá nhân đang làm công việc tự do (bán hàng rong), thu nhập không ổn định và đang ở nhờ nhà người thân muốn đăng ký mua nhà ở xã hội thì cần những loại giấy tờ gì để chứng minh điều kiện về thu nhập?
Điều kiện để được mua nhà ở xã hội theo quy định pháp luật
Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014, nhóm đối tượng "người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị" là một trong những đối tượng chính được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội. Tuy nhiên, để được xét duyệt hồ sơ, cá nhân phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về nhà ở, cư trú và thu nhập theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Nhà ở.
Cụ thể, các điều kiện cần thỏa mãn bao gồm:
- Về thực trạng nhà ở: Chưa có nhà ở thuộc sở hữu cá nhân; chưa từng được mua, thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội; chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở dưới bất kỳ hình thức nào tại nơi đang sinh sống hoặc học tập. Trường hợp đã có nhà nhưng diện tích bình quân đầu người trong hộ gia đình thấp hơn mức tối thiểu do Chính phủ quy định thì vẫn thuộc phạm vi xem xét.
- Về cư trú: Phải có đăng ký thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội. Trong trường hợp không có đăng ký thường trú, cá nhân phải có đăng ký tạm trú từ một năm trở lên tại địa phương đó (trừ một số trường hợp đặc biệt theo quy định). Để hiểu rõ hơn về các tiêu chuẩn này, người dân cần lưu ý để được mua nhà ở xã hội cần đáp ứng điều kiện về nhà ở, cư trú, thu nhập.
- Về thu nhập: Đối với nhóm đối tượng thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo hoặc người thu nhập thấp tại đô thị, yêu cầu đặt ra là không phải nộp thuế thu nhập cá nhân thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế. Trường hợp là hộ nghèo, cận nghèo thì phải có xác nhận theo tiêu chuẩn của Thủ tướng Chính phủ.
Hồ sơ và giấy tờ chứng minh điều kiện thu nhập, cư trú
Để hoàn thiện hồ trình đăng ký, ngoài đơn đề nghị hỗ trợ nhà ở theo mẫu hướng dẫn của Bộ Xây dựng, cá nhân cần chuẩn bị các nhóm giấy tờ sau dựa trên Nghị định số 100/2015/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi như Nghị định số 49/2021/NĐ-CP:
1. Giấy tờ chứng minh đối tượng và thực trạng nhà ở
- Xác nhận đối tượng: Đối với người thu nhập thấp tại đô thị, cần có giấy xác nhận về đối tượng do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú (nếu đã tạm trú từ một năm trở lên) cấp.
- Xác nhận thực trạng nhà ở: Phải có văn bản xác nhận về tình trạng nhà ở và việc chưa từng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở từ Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đăng ký thường trú hoặc tạm trú (từ một năm trở lên).
2. Giấy tờ chứng minh điều kiện cư trú
Tùy vào tình trạng hộ khẩu, cá nhân cần cung cấp:
- Nếu có đăng ký thường trú: Bản sao có chứng thực sổ hộ khẩu thường trú hoặc giấy đăng ký hộ khẩu tập thể tại địa phương nơi có dự án.
- Nếu không có đăng ký thường trú: Bản sao giấy xác nhận đăng ký tạm trú kèm theo giấy xác nhận đóng bảo hiểm xã hội từ 01 năm trở lên tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội.
3. Giấy tờ chứng minh điều kiện thu nhập
Đây là nội dung quan trọng nhất đối với trường hợp người lao động tự do. Theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 22 Nghị định 100/2015/NĐ-CP (đã được sửa đổi), các đối tượng thuộc nhóm quy định tại khoản 4 Điều 49 Luật Nhà ở (bao gồm người thu nhập thấp tại đô thị) thực hiện chế độ tự kê khai về mức thu nhập của bản thân và phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về tính chính xác của thông tin tự kê khai này. Cơ quan chức năng (Sở Xây dựng) sẽ phối hợp với cơ quan thuế địa phương để xác minh trong trường hợp cần thiết.
Như vậy, đối với trường hợp người thân của bạn đang làm công việc bán trà đá với thu nhập bấp bênh, về mặt pháp lý, việc chứng minh thu nhập được thực hiện thông qua hình thức tự kê khai. Tuy nhiên, để đảm bảo hồ sơ hợp lệ, cần tập trung vào việc chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ chứng minh điều kiện thu nhập tại khu vực đô thị để đăng ký mua nhà ở xã hội liên quan đến cư trú và thực trạng nhà ở tại địa phương.