V 28 tuổi quê ở tỉnh N lên Hà Nội làm việc và có quen biết chị B (19 tuổi). Cuối năm 2020, V về quê gặp T (27 tuổi) thì T có bàn với V là rủ B lên Lào Cao chơi sau đó đưa sang Trung Quốc bán lấy...
V đã đồng ý. V và T lên Hà Nội đến khu nhà trọ ở khu vực xã A – huyện H (nơi B thuê ở trọ) rủ B đi lên Lào Cai chơi. Sau khi lên đến Lào Cai, V và T đã đưa B sang Trung Quốc bán cho một người Trung Quốc lấy 25 triệu đồng. 2 tháng sau, B trốn được về Việt Nam qua cửa khẩu Lào Cai và quay trở lại khu nhà trọ ở xã A – huyện H, thành phố Hà Nội. Đề nghị cho biết chị B phải đến cơ quan, tổ chức nào để tố giác tội phạm, khai báo về việc bị mua bán? Hành vi của V và T phạm tội gì, mức hình phạt được quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 19 Luật phòng, chống mua bán người quy định việc tố giác, tin báo, tố cáo hành vi vi phạm như sau:
“1. Cá nhân có nghĩa vụ tố giác, tố cáo hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này với cơ quan Công an, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) hoặc với bất kỳ cơ quan, tổ chức nào.
2. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác, tin báo, tố cáo về hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này có trách nhiệm xử lý theo thẩm quyền hoặc kịp thời thông báo với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.”
Mặt khác tại khoản 1 Điều 24 Luật phòng, chống mua bán người, quy định về việc tiếp nhận nạn nhân bị mua bán trong nước nêu rõ: “Nạn nhân hoặc nười đại diện hợp pháp của nạn nhân có thể đến UBND cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi gần nhất khai báo về việc bị mua bán. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận khai báo có trách nhiệm chuyển ngay người đó đến UBND cấp xã nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở. UBND cấp xã có trách nhiệm thông báo ngay với Phòng LĐ-TB và XH. Trong trường hợp cần thiết, UBND cấp xã đã tiếp nhận nạn nhân thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân”.
Như vậy, theo các quy định trên thì chị B đến ngay cơ quan Công an, Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc với bất kỳ cơ quan, tổ chức nào nơi gần nhất để khai báo, tố giác về việc mình bị mua bán.
Về hành vi của V và T: Theo quy định tại Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội mua bán người thì:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Vì động cơ đê hèn;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
d) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
đ) Đối với từ 02 người đến 05 người;
e) Phạm tội 02 lần trở lên.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;
đ) Đối với 06 người trở lên;
e) Tái phạm nguy hiểm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Như vậy, hành vi của V và T đã cấu thành Tội mua bán người, quy định tại điểm a, d khoản 2 của Điều 150 Bộ luật Hình sự nêu trên và có thể bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm. Ngoài ra, V và T còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Khánh Chi
Nguyễn Sỹ Tuấn