Hôm vừa rồi, khi vừa mở cửa hàng tôi chứng kiến 1 đối tượng đi xe máy giật túi sách (bên trong có 5 triệu đồng tiền mặt và 1 chiếc điện thoại di động trị giá 15 triệu đồng) của 1 chị đi xe máy cùng...
Còn đối tượng đã bị công an bắt giữ khi đang phóng xe tẩu thoát. Xin hỏi đối tượng này sẽ bị xử lý về tội gì? Mức hình phạt được quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 171 Bộ Luật Hình sự năm 2015 quy định “Tội cướp giật tài sản” như sau:
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
c) Làm chết người;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 Của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự năm 1999 thì: "Dùng thủ đoạn nguy hiểm" quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự là dùng thủ đoạn để cướp giật tài sản mà nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại hoặc của người khác như dùng xe mô tô, xe máy để thực hiện việc cướp giật tài sản; cướp giật của người đang đi mô tô, xe máy... Cần chú ý là trong trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm để cướp giật tài sản mà gây ra hậu quả nghiêm trọng, thì phải áp dụng cả hai tình tiết định khung hình phạt quy định tại các điểm d và h khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự.
Như vậy, căn cứ các quy định trên thì hành vi của đối tượng đã đủ dấu hiệu cấu thành “Tội cướp giật tài sản”. Với việc đối tượng dùng xe máy để cướp giật túi sách của người đang đi xe máy thì đối tượng này sẽ bị xử lý theo điểm d, khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (Dùng thủ đoạn nguy hiểm). Mức hình phạt được áp dụng đối với đối tượng này là bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Ngoài ra, đối tượng này còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng..
Khánh Chi
Nguyễn Sỹ Tuấn