Từ đầu tháng vừa rồi, giám đốc người nước ngoài yêu cầu tất cả công nhân một tuần 3 buổi trưa sau khi ăn cơm phải tham gia nghe giảng đạo mới xuất hiện tại nước của ông này. Một số công nhân...
Từ đầu tháng vừa rồi, giám đốc người nước ngoài yêu cầu tất cả công nhân một tuần 3 buổi trưa sau khi ăn cơm phải tham gia nghe giảng đạo mới xuất hiện tại nước của ông này.
Một số công nhân đang theo Công giáo hoặc đạo Phật tỏ ý không muốn tham gia thì bị tuyên bố cắt tiền thưởng.
Các anh chị cho hỏi, có phải Giám đốc công ty đã xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hay không? Hành vi này có bị pháp luật xử lý hay không?
Trả lời
Khoản 1 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng”.
Theo khoản 5 của Điều này, “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được quy định tại Điều 6 Luật này như sau:
“1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
2. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo.
3. Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
4. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác.
5. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.
6. Chính phủ quy định chi tiết việc bảo đảm thực hiện các quyền quy định tại khoản 5 Điều này”.
Căn cứ quy định nêu trên, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào là quyền của mỗi người. Tương ứng, một trong những hành vi bị nghiêm cấm theo khoản 2 Điều 5 của Luật này là “ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo”.
Theo thông tin các bạn cung cấp, giám đốc nơi bạn làm việc bắt buộc tất cả công nhân nghe giảng đạo, trong đó có những người không muốn tham gia vì đang theo Công giáo hoặc đạo Phật. Đó chính là hành vi ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo.
Xử lý hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, Điều 64 của Luật này quy định:
“1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Căn cứ quy định của Luật này và Luật xử lý vi phạm hành chính, Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức phạt cụ thể và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo”.
Tùy theo tính chất, mức độ hành vi và hậu quả xảy ra, hành vi này có thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự.
Điều 164 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác. Cụ thể:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác ngăn cản hoặc ép buộc người khác thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Dẫn đến biểu tình;
đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Admin Admin Admin