Cháu gọi tôi là dì ở quê lên Hà Nội làm việc. Để tạo thuận lợi tốt nhất cho cháu, đặt biệt là chuẩn bị cho con của cháu xin học trường công, tôi đã đồng ý ký giấy tờ do cháu chuẩn bị sẵn để cháu...
Cháu gọi tôi là dì ở quê lên Hà Nội làm việc. Để tạo thuận lợi tốt nhất cho cháu, đặt biệt là chuẩn bị cho con của cháu xin học trường công, tôi đã đồng ý ký giấy tờ do cháu chuẩn bị sẵn để cháu được nhập hộ khẩu vào gia đình mình.
Vừa rồi một số người hàng xóm nói rằng, nếu thực tế cháu không ở cùng mà xác nhận cho nhập hộ khẩu thì tôi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Xin hỏi các anh chị, điều đó có đúng hay không? Trả lời Theo Điều 3 Văn bản hợp nhất Luật Cư trú số 03/VBHN-VPQH ngày 11/7/2013 của Văn phòng Quốc hội, “Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Công dân có đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thường trú, tạm trú. Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”. Như vậy, tự do cư trú là quyền của công dân, bao gồm đăng ký tạm trú và đăng ký thường trú. Đăng ký thường trú là việc công dân đăng ký nơi thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu cho họ. Điều 20 Văn bản hợp nhất Luật Cư trú số 03/VBHN-VPQH quy định công dân thuộc các trường hợp và đáp ứng điều kiện sau đây thì được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương: “1. Có chỗ ở hợp pháp, trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ một năm trở lên, trường hợp đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ hai năm trở lên; 2. Được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con; b) Người hết tuổi lao động, nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ thôi việc về ở với anh, chị, em ruột; c) Người khuyết tật, mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ; d) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ; đ) Người thành niên độc thân về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột; e) Ông bà nội, ngoại về ở với cháu ruột; 3. Được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn và có chỗ ở hợp pháp; 4. Trước đây đã đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương, nay trở về thành phố đó sinh sống tại chỗ ở hợp pháp của mình; 5. Trường hợp quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều này đăng ký thường trú vào chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân, tổ chức thì phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Bảo đảm điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố; b) Có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn về điều kiện diện tích bình quân; c) Được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản; 6. Việc đăng ký thường trú vào nội thành thành phố Hà Nội thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật Thủ đô.” Thông tin của bạn cho thấy, cháu của bạn đăng ký thường trú tại Hà Nội với điều kiện áp dụng chỗ ở hợp pháp là có xác nhận của bạn về việc cho ở nhờ và đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết đăng ký thường trú. Tuy nhiên, trên thực tế người này lại không sinh sống cùng với bạn. Cho nên, bạn đã vi phạm điều cấm của pháp luật về cư trú. Cụ thể, một trong những hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại khoản 11 Điều 8 của Luật này là “đồng ý cho người khác đăng ký cư trú vào chỗ ở của mình để vụ lợi hoặc trong thực tế người đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó”. Vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú, theo khoản 3 Điều 8 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, hành vi “cho người khác đăng ký cư trú vào chỗ ở của mình để vụ lợi hoặc trong thực tế người đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó” bị “phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng”. Tóm lại, tự do cư trú là quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, việc đăng ký thường trú hay tạm trú phải đáp ứng điều kiện và thực hiện đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Ngọc Đức
admin admin