Năm nay em vừa tròn 17 tuổi, đang học lớp 12 và chuẩn bị thi vào Đại học. Qua tìm hiểu em được biết độ tuổi đăng ký nghĩa vụ quân sự và độ tuổi phải đi bộ đội là khác nhau. Thậm chí để được gọi...
Em thấy anh hàng xóm hơn tuổi em mà mấy lần nhận lệnh gọi nhập ngũ nhưng không đi thì có vi phạm hay không và mức phạt nếu có là như thế nào?
Trả lời
Đúng như thông tin của bạn, pháp luật hiện nay quy định về độ tuổi đăng ký nghĩa vụ quân sự và độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự khác nhau.
Điều 12 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định đối tượng đăng ký nghĩa vụ quân sự như sau:
“1. Công dân nam đủ 17 tuổi trở lên.
2. Công dân nữ quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật này đủ 18 tuổi trở lên”.
Theo Điều 30 của Luật này, “Công dân đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi; công dân được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi”.
Như vậy, về nguyên tắc bạn từ đủ 17 tuổi trở lên phải đăng ký nghĩa vụ quân sự và đủ 18 tuổi bạn có thể được gọi nhập ngũ.
Đạt độ tuổi, bạn cần đáp ứng đủ các tiêu chuẩn để được gọi nhập ngũ theo quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật này, bao gồm:
“a) Lý lịch rõ ràng;
b) Chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
c) Đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo quy định;
d) Có trình độ văn hóa phù hợp”.
Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện ra lệnh gọi từng công dân nhập ngũ. Lệnh gọi nhập ngũ phải được giao cho công dân trước thời gian ghi trong lệnh 15 ngày.
Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân. Thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân. Khi nhận được lệnh nhập ngũ, bạn có nghĩa vụ thực hiện. Việc trốn tránh, trì hoãn không thực hiện lệnh gọi nhập ngũ là hành vi vi phạm pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, thậm chí có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vi phạm quy định về nhập ngũ, Điều 7 Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 1 Nghị định số 37/2022/NĐ-CP ngày 06/6/2022 của Chính phủ quy định:
“1. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm tập trung ghi trong lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng.
2. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi gian dối nhằm trốn tránh thực hiện lệnh gọi nhập ngũ sau khi đã có kết quả khám tuyển sức khỏe nghĩa vụ quân sự đủ điều kiện nhập ngũ theo quy định.
3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện nghĩa vụ quân sự đối với người có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này”.
“Lý do chính đáng”, theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 4 Thông tư số 07/2023/TT-BQP ngày 27/01/2023 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là một trong các trường hợp sau:
“a) Người phải thực hiện việc kiểm tra hoặc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự; khám sức khỏe tuyển chọn sĩ quan dự bị; chấp hành lệnh gọi nhập ngũ; lệnh gọi đi đào tạo sĩ quan dự bị; lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu (sau đây viết gọn là người thực hiện nghĩa vụ quân sự) nhưng bị ốm đau, tai nạn hoặc trên đường đi bị ốm đau, tai nạn phải điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
b) Thân nhân của người thực hiện nghĩa vụ quân sự, gồm: Cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ hoặc cha chồng, mẹ chồng; cha nuôi, mẹ nuôi; người nuôi dưỡng hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp bị ốm đau, tai nạn nặng đang điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
c) Thân nhân của người thực hiện nghĩa vụ quân sự quy định tại điểm b khoản này chết nhưng chưa tổ chức tang lễ hoặc tang lễ chưa kết thúc.
d) Nhà ở của người thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc nhà ở của thân nhân người thực hiện nghĩa vụ quân sự quy định tại điểm b khoản này nằm trong vùng đang bị thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống.
đ) Người thực hiện nghĩa vụ quân sự không nhận được lệnh gọi kiểm tra hoặc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự; khám sức khỏe tuyển chọn sĩ quan dự bị; lệnh gọi nhập ngũ; lệnh gọi đi đào tạo sĩ quan dự bị; lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu; hoặc có nhận được lệnh, nhưng trong lệnh không ghi rõ thời gian, địa điểm do lỗi của người hoặc cơ quan có trách nhiệm, hoặc do người khác có hành vi cản trở được quy định tại Điều 7 Thông tư này”.
Trường hợp quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 nêu trên phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã điều trị hoặc trạm y tế cấp xã nơi cư trú; trường hợp quy định tại điểm c, điểm d khoản 1 Điều này phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú; trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan có thẩm quyền.
Người vi phạm có thể bị xem xét xử lý về Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự được quy định tại Điều 332 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:
“1. Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;
b) Phạm tội trong thời chiến;
c) Lôi kéo người khác phạm tội”.
Trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự là hành vi không chấp hành lệnh gọi đăng ký nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi nhập ngũ; lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu. Người vi phạm, tùy theo tính chất mức độ và hậu quả bị xử lý như trên theo quy định của pháp luật.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú