Trên các mạng xã hội gần đây có đăng tải, chia sẻ thông tin gia đình người hiến tạng sau khi chết muốn tìm gặp người được cho, ghép tạng.
Xin hỏi các anh chị, Bệnh viện nơi thực hiện ghép tạng có trách nhiệm cung cấp thông tin về người được nhận và ghép tạng cho gia đình người đã hiến tạng hay không?
Trả lời
Theo khoản 6 Điều 3 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, “hiến mô, bộ phận cơ thể người là việc cá nhân tự nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc sau khi chết”.
Ghép mô, bộ phận cơ thể người, theo khoản 8 của Điều này, “là việc cấy ghép mô, bộ phận tương ứng của cơ thể người hiến vào cơ thể của người được ghép”.
Việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện đối với người hiến, người được ghép; vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học; không nhằm mục đích thương mại; giữ bí mật về các thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Một trong các hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại khoản 9 Điều 11 của Luật này là “tiết lộ thông tin, bí mật về người hiến và người được ghép trái với quy định của pháp luật”.
Pháp luật quy định rất chặt chẽ, cụ thể thủ tục đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống hoặc sau khi chết, điều kiện, thủ tục lấy mô, bộ phận cơ thể, thủ tục đăng ký hiến xác, điều kiện lấy xác, điều kiện đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người, điều kiện và trách nhiệm của cơ sở tiếp nhận và bảo quản xác của người hiến... Đồng thời, quy định rõ ràng, chi tiết điều kiện đối với người được ghép mô, bộ phận cơ thể người, điều kiện đối với cơ sở y tế được ghép mô, bộ phận cơ thể người, chăm sóc sức khỏe sau khi ghép mô, bộ phận cơ thể người, chế độ bảo hiểm y tế và viện phí đối với người được ghép mô, bộ phận cơ thể người...
Việc mã hóa thông tin có liên quan được quy định tại Điều 38 của Luật này như sau:
“1. Mọi thông tin về người hiến, người được ghép bộ phận cơ thể người phải được mã hóa thông tin và bảo mật.
2. Trong trường hợp công bố thông tin quy định tại khoản 1 Điều này thì phải bảo đảm tính vô danh để không xác định được người hiến và người được ghép, trừ trường hợp người hiến và người được ghép là người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ trong phạm vi ba đời.
3. Trong trường hợp đặc biệt vì mục đích chữa bệnh theo yêu cầu của người đứng đầu cơ sở y tế hoặc theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng thì cơ sở lưu giữ thông tin mới được phép cung cấp thông tin.
4. Hồ sơ về người hiến và người được ghép phải được lưu giữ, bảo quản trong ba mươi năm”.
Tóm lại, thông tin về người hiến, người được ghép bộ phận cơ thể người được mã hóa thông tin và bảo mật. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt như vì mục đích chữa bệnh theo yêu cầu của người đứng đầu cơ sở y tế hoặc theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, cơ sở lưu giữ thông tin mới được phép cung cấp thông tin.
Chính vì vậy, yêu cầu của gia đình người hiến tạng về việc cung cấp thông tin về người được nhận, ghép tạng là không đúng quy định của pháp luật.
Việc tiết lộ thông tin không đúng quy định nêu trên, dù đó là cơ sở lưu giữ thông tin hay Bệnh viện nơi đã thực hiện ghép tạng là vi phạm điều cấm của pháp luật. Theo điểm a khoản 5 Điều 44 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, hành vi “tiết lộ thông tin, bí mật về người hiến và người được ghép, trừ trường hợp có sự đồng ý bằng văn bản của các bên hoặc pháp luật có quy định khác” bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú