Công ty nơi em làm việc quy định thời giờ làm việc bình thường (không được hưởng tiền làm thêm giờ) 10 giờ/ngày và 50 giờ/tuần.
Quy định như vậy cao hơn mức bình thường của các doanh nghiệp khác em đã từng làm trước đây thì có vi phạm pháp luật và dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu hay không?
Trả lời
Như chúng ta đã biết, pháp luật lao động hiện nay quy định thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.
Theo khoản 2 Điều 105 Bộ luật Lao động năm 2019, “người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần”.
Như vậy, mặc dù có quyền quy định thời giờ làm việc của người lao động, nhưng người sử dụng lao động phải tuân thủ về số giờ làm việc bình thường tối đa trong 01 ngày và trong 01 tuần. Bên cạnh đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đúng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và pháp luật có liên quan.
Nếu quy định nhiều hơn số giờ làm việc nêu trên là vi phạm quy định của pháp luật lao động. Hệ quả, về nguyên tắc nội dung này vô hiệu.
Điều 49 của Bộ luật này quy định về hợp đồng lao động vô hiệu như sau:
“1. Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ trong trường hợp sau đây:
a) Toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật;
b) Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này;
c) Công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm.
2. Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng”.
Tòa án nhân dân có quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, bao gồm cả trường hợp Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ và Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần.
Việc xử lý hợp đồng vô hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này. Đó là:
“1. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần thì xử lý như sau:
a) Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng; trường hợp không có thỏa ước lao động tập thể thì thực hiện theo quy định của pháp luật;
b) Hai bên tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để phù hợp với thỏa ước lao động tập thể hoặc pháp luật về lao động.
2. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động được giải quyết theo quy định của pháp luật; trường hợp do ký sai thẩm quyền thì hai bên ký lại.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.
Hướng dẫn xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng, Điều 9 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định:
“1. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần, người sử dụng lao động và người lao động tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho phù hợp với thỏa ước lao động tập thể và pháp luật.
2. Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong thời gian từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi hợp đồng lao động được sửa đổi, bổ sung thì được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng, trường hợp không có thỏa ước lao động tập thể thì thực hiện theo quy định của pháp luật.
Trường hợp hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu có tiền lương thấp hơn so với quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì hai bên phải thỏa thuận lại mức lương cho đúng quy định và người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định phần chênh lệch giữa tiền lương đã thỏa thuận lại so với tiền lương trong hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để hoàn trả cho người lao động tương ứng với thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu.
3. Trường hợp hai bên không thống nhất sửa đổi, bổ sung các nội dung đã bị tuyên bố vô hiệu thì:
a) Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của hai bên từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo khoản 2 Điều này;
c) Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 8 Nghị định này;
d) Thời gian làm việc của người lao động theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian người lao động làm việc cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động.
4. Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng phần thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự”.
Nếu hợp đồng lao động giữa bạn và Công ty bị Tòa án tuyên bố vô hiệu từng phần, trước tiên, hai bên thỏa thuận tiến hành sửa đổi, bổ sung nội dung về thời giờ làm việc bình thường của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho phù hợp với thỏa ước lao động tập thể và pháp luật (không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần. Trường hợp theo tuần thì không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần).
Nếu không, hai bên thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động đã bị tuyên bố vô hiệu từng phần.
Bên cạnh đó, theo điểm a khoản 3 Điều 18 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ, người sử dụng lao động có hành vi “Thực hiện thời giờ làm việc bình thường quá số giờ làm việc theo quy định của pháp luật” bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định này, “mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân”. Do vậy, Công ty nơi bạn làm việc quy định và thực hiện quá số giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú