Tôi cho ông D thuê nhà để kinh doanh karaoke trong thời hạn 05 năm. Đến nay đã hết hạn thuê nhà theo Hợp đồng nhưng ông D vẫn sử dụng và không chịu trả lại nhà cho tôi.
Xin hỏi tôi có thể đến đâu để yêu cầu giải quyết vụ việc trên? với việc chiếm dụng trái phép nhà của tôi như vậy, ông D sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời:
- Về yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về giao dịch thuê nhà: Điều 4, Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, cụ thể như sau:
“Điều 4. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.
2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.
Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.
Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định.”
“Điều 5. Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.”
Mặt khác, theo quy định tại Điều 26 về những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Điều 35 về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Điều 39 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự. Theo đó, ông/bà có thể làm đơn khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc để yêu cầu giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp về giao dịch thuê nhà nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Việc xử lý đối với ông D: Hành vi không trả lại nhà khi hợp đồng thuê nhà đã hết hạn là hành vi vi phạm pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra ông D có thể bị xử lý hành chính, xử lý về hình sự.
Cụ thể, khoản 1 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ thì vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác bị xử lý như sau:
Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Trộm cắp tài sản;
b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác;
c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;
d) Sử dụng trái phép tài sản của người khác.
Như vậy, hành vi của ông D được coi là hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác và có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
Trường hợp ông D đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà vẫn còn vi phạm thì sẽ bị xử lý hình sự về tội sử dụng trái phép tài sản của người khác theo Điều 177 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể như sau:
Điều 177. Tội sử dụng trái phép tài sản
1. Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc dưới 500.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 219 và Điều 220 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
b) Tài sản là bảo vật quốc gia;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội sử dụng trái phép tài sản trị giá 1.500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Khánh Chi
Nguyễn Sỹ Tuấn