Thời gian qua, có nhiều trường hợp ngay sau khi sinh con, người mẹ đã vứt bỏ con ở nơi công cộng, thậm chí giết con. Không biết hành vi này bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời
Theo khoản 1 Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016, “bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt”.
Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.
Bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em là hành vi của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.
Một trong các hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật này là “bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em”.
Như vậy, hành vi vứt bỏ con ở nơi công cộng, giết con của người mẹ sau khi sinh đã vi phạm điều cấm nêu trên của pháp luật. Tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả, người thực hiện hành vi này sẽ bị xử lý hành chính hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự.
Theo khoản 1 Điều 22 Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013 của Chính phủ, một trong các hành vi sau đây bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000:
“a) Bỏ hoặc không chăm sóc, nuôi dưỡng con sau khi sinh;
b) Cha, mẹ, người giám hộ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, cắt đứt quan hệ tình cảm và vật chất với trẻ em, trừ trường hợp cho trẻ em làm con nuôi hoặc bị buộc phải cách ly trẻ em theo quy định của pháp luật;
c) Cha, mẹ; người giám hộ cố ý bỏ rơi trẻ em ở nơi công cộng, bỏ mặc hoặc ép buộc trẻ em không sống cùng gia đình, bỏ mặc trẻ em tự sinh sống, không quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em để trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt”.
Ngoài ra, người có hành vi vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu buộc thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em theo quy định của pháp luật đối với cha, mẹ, người giám hộ.
Điều 124 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ như sau:
“1. Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà vứt bỏ con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.
Người mẹ bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu được hiểu là người bị ảnh hưởng của tư tưởng cũ, không phù hợp với quan niệm lối sống hiện tại. Ví dụ, tư tưởng không đẻ được con trai, quan niệm về chưa có chồng mà có con...
Người mẹ có hoàn cảnh khách quan đặc biệt được hiểu là trường hợp sau khi sinh con, người mẹ không có khả năng để nuôi con mình. Ví dụ, đang bị bệnh hiểm nghèo.
Người mẹ do ảnh hưởng như mô tả ở trên vứt con mới đẻ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu:
- Nạn nhân là con đẻ;
- Vứt bỏ con trong 07 ngày tuổi dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết hoặc giết con trong 07 ngày tuổi.
Nếu không thuộc các trường hợp nêu trên, người mẹ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật này. Đó là:
“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú