Dì tôi ở dưới quê có chục căn nhà trọ cho thuê, vừa rồi người nhà báo lên dì bị công an họ gọi lên làm việc rồi bị tạm giữ để phục vụ điều tra. Tôi về xem tình hình thì nghe mọi người bảo chắc dì...
Dì tôi ở dưới quê có chục căn nhà trọ cho thuê, vừa rồi người nhà báo lên dì bị công an họ gọi lên làm việc rồi bị tạm giữ để phục vụ điều tra. Tôi về xem tình hình thì nghe mọi người bảo chắc dì chứa gái mại dâm nên bị bắt. Theo những gì tôi tìm hiểu được thì trong khu nhà trọ của dì có mấy phòng trọ là cave thuê để ở, không biết quen biết thế nào mà dì lại dắt mối gái đang trọ bán dâm cho mấy ông thợ xây ở dự án khu công nghiệp gần đó. Dì chỉ đứng giữa ăn hoa hồng còn gái và khách thì qua nhà nghỉ ngay bên kia đường hành sự. Bữa vừa rồi nhà nghỉ bên đó bị công an kiểm tra hành chính và bắt quả tang gái nhà dì đang bán dâm cho khách và họ khai ra dì nên dì mới bị công an bắt. Tôi muốn hỏi dì của tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội chứa mại dâm không?
Trả lời:
Hoạt động mai dâm là hoạt động bị nghiêm cấm bởi nó không chỉ xâm phạm đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam chúng ta mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống văn hóa, trật tự an toàn xã hội và là một trong những nguồn nguy cơ cao lây nhiễm HIV/AIDS. Trên cơ sở tình huống câu hỏi của công dân đưa ra thì cần xem xét để hiểu rõ về hành vi chứa mại dâm theo quy định tại Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm năm 2003, cụ thể:
“Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Pháp lệnh này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
4. Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm.”
Theo định nghĩa nêu trên thì có thể hiểu việc chứa mại dâm là hành vi với nhiều thủ đoạn khác nhau như: cho thuê, cho mượn địa điểm, phương tiện để hoạt động mại dâm. Hành vi này được giải thích chi tiết hơn tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm, theo đó:
“Điều 3. Nội dung chi tiết một số từ ngữ
1. "Cho thuê, cho mượn địa điểm, phương tiện để hoạt động mại dâm" quy định tại khoản 4 Điều 3 của Pháp lệnh là hành vi của tổ chức, cá nhân có quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản mà cho thuê, cho mượn để hoạt động mại dâm.”
Như vậy, dựa trên những tình tiết trong phạm vi câu hỏi nếu nhìn nhận khách quan thì người dì của công dân trong trường hợp này mà sau khi dắt mối gái mại dâm cho khách thì để họ thực hiện mua, bán dâm ngay tại chỗ trọ của mình thì lúc đó mới xác định có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự với tội chứa mại dâm. Tuy nhiên, người dì của công dân lại chỉ đứng giữa ăn hoa hồng môi giới còn gái và khách thì lại thực hiện mua, bán dâm và quan hệ giao cấu tại một địa điểm khác là nhà nghỉ ngay bên kia đường không thuộc quyền sở hữu hay quản lý của dì công dân. Do đó, hành vi của dì công dân có thể xem là hành vi cố ý dẵn dắt với vai trò trung gian vì mục đích tư lợi là ăn hoa hồng để các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm, chính là dì của công dân đang thực hiện hành vi môi giới mại dâm theo quy định tại Khoản 7 Điều 3 Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm năm 2003 quy định "Môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt của người làm trung gian để các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm
TTại Điều 24 Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm năm 2003 quy định như sau:
“Điều 24. Xử lý đối với người có hành vi liên quan đến mại dâm
2. Người môi giới mại dâm, chứa mại dâm, cưỡng bức bán dâm, tổ chức mại dâm, mua bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”
Căn cứ theo quy định vừa nêu thì dì của công dân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội môi giới mại dâm theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể:
“Điều 328. Tội môi giới mại dâm
1. Người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;
b) Có tổ chức;
c) Có tính chất chuyên nghiệp;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;
b) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Như vậy, tùy vào mức độ nghiêm trọng và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thông qua quá trình điều tra của cơ quan công an để xác định khung hình phạt theo quy định thì dì của công dân có thể bị phạt tù có thời hạn từ 06 tháng đến 15 năm. Ngoài ra, dì của công dân còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10 triệu đến 50 triệu đồng.
Admin Admin Admin