Năm 2020 anh chị cả nhà em nhận chuyển nhượng một thửa đất của hàng xóm, sau đó làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình.
Nay anh chị em muốn chuyển nhượng cho người khác thì được cán bộ địa chính tư vấn phải có sự đồng ý của tất cả các thành viên gia đình bằng văn bản, có chứng thực của chính quyền thì mới giao dịch được.
Em không rõ tại sao anh chị cả em là người đầu tư tiền, mà khi chuyển nhượng cần có sự chấp thuận của những người còn lại trong gia đình? Mong các anh chị giải đáp giúp.
Trả lời
Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định “hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”.
Theo điểm a khoản 2 Điều 167 của Luật này, “Nhóm người sử dụng đất gồm hộ gia đình, cá nhân thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật này”.
Điều đó đồng nghĩa, người sử dụng đất là hộ gia đình các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất.
Thông tin bạn cung cấp cho thấy, khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh chị cả của bạn đã kê khai quyền sử dụng đất là của hộ gia đình. Khoản 1 Điều 64 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: “Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình phải được người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự ký tên”.
Hướng dẫn cụ thể nội dung nêu trên, khoản 5 Điều 14 Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ trưởng Bộ tài nguyên và Môi trường quy định: “Người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự quy định tại Khoản 1 Điều 64 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP chỉ được thực hiện việc ký hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất khi đã được các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất đồng ý bằng văn bản và văn bản đó đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật”.
Cho nên, đối với thửa đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, người đứng tên trên Giấy chứng nhận chỉ được ký hợp đồng, văn bản giao dịch khi đã được các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất đồng ý bằng văn bản.
Lưu ý, văn bản thể hiện sự đồng ý của các thành viên trong hộ gia đình phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.
Gia đình bạn có thể chứng thực tại Phòng Tư pháp cấp huyện hoặc UBND cấp xã như hướng dẫn của cán bộ địa chính xã. Bởi vì:
- Theo điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ, Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền và trách nhiệm “Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản”;
- Theo điểm b khoản 2 của Điều này, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có thẩm quyền và trách nhiệm “Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản, trừ việc chứng thực chữ ký người dịch”.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú