Khi yêu anh T, tôi không biết anh đã có vợ. Khi tôi sinh con với anh T và cùng anh ấy ra UBND xã để nhận con và khai sinh cho cháu thì chị M đến UBND xã nói chị là vợ có đăng ký kết hôn với anh T...
K
Trả lời:
Trước hết, cần khẳng định cháu bé do chị sinh ra là con ngoài giá thú, chưa xác định được người cha. Do đó, theo quy định tại Điều 13 của Luật Trẻ em năm 2016, thì “Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật.”
Tại Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì trong việc xác định quan hệ cha, mẹ, con, Toà án chỉ thụ lý giải quyết khi việc nhận cha, mẹ, con đó có tranh chấp giữa các bên trong quan hệ này.
Mặt khác, tại khoản 2 Điều 91, của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quyền nhận con: “2. Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia.”
Còn trong trường hợp việc cha, mẹ nhận con hoặc con nhận cha, mẹ có sự tự nguyện giữa các bên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan đăng ký hộ tịch thông qua thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con được quy định tại Điều 24, Điều 25 Luật Hộ tịch, cụ thể như sau:
“Điều 24. Thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con.
Điều 25. Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con
1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc.”
Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên, việc chị M yêu cầu không được cho anh T nhận con và sẽ đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ việc này là không đúng phấp luật, vì những lý do sau:
Thứ nhất, các bên trong quan hệ cha nhận con trong vụ việc này là chị, anh T và cháu bé. Trong đó chị, với tư cách người mẹ, là người đại diện cho con để thực hiện việc xác định cha cho con. Chỉ có ý kiến của chị và anh T mới có giá trị pháp lý để cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết việc cha nhận con. Còn chị M, người vợ hợp pháp của anh T không có tư cách là một bên trong quan hệ cha nhận con này.
Thứ hai, cả chị và anh T đều bày tỏ ý chí tự nguyện và thống nhất công nhận anh T là cha của cháu bé. Giữa các bên trong quan hệ cha nhận con này không phát sinh tranh chấp. Chị M không phải là chủ thể có tư cách pháp lý tham gia vào quan hệ cha nhận con, do đó, yêu cầu của chị M không phải là căn cứ làm phát sinh tranh chấp trong quan hệ cha nhận con.
Như vậy, căn cứ quy định tại các Điều 24, Điều 25 Luật Hộ tịch và Điều 14, Điều 15 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch thì việc anh T nhận con thoả mãn đầy đủ điều kiện để có thể yêu cầu UBND xã tiếp nhận, giải quyết việc đăng ký cha nhận con theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Khánh Chi
Nguyễn Sỹ Tuấn