Cháu trai tôi đang là học sinh, vì theo bạn bè hội nhóm trên internet nên đã dùng tài khoản của mình để đe dọa bạn khác cùng trường, trong đó có một lần đe dọa giết chết khiến cho bạn đó sợ không...
Gia đình bạn kia không chỉ báo Ban giám hiệu, mà còn tố cáo đến cơ quan công an. Xin hỏi, cháu tôi có thể bị xử lý hình sự về Tội đe dọa giết người hay không?
Trả lời
Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về Tội đe dọa giết người như sau:
“1. Người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Đối với 02 người trở lên;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
d) Đối với người dưới 16 tuổi;
đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác”.
Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Điều 12 của Bộ luật này, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”.
Tại khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
“a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.
Điều 133 nêu trên quy định 02 khoản với 02 khung hình phạt. Khoản 1 quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 3 năm tù, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng; khoản 2 quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 07 năm tù, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.
Như vậy, nếu cháu bạn từ đủ 16 tuổi, đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì cháu bạn phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội đe dọa giết người.
Trường hợp cháu dưới 16 tuổi thì không bị xử lý hình sự về tội này. Tuy nhiên, nếu đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, theo điểm a khoản 1 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cháu “bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý”.
Thực hiện một trong các hành vi “cung cấp, trao đổi, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin, dịch vụ có nội dung đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc; dâm ô, đồi trụy, mê tín dị đoan, trái đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc”, theo điểm g khoản 3 Điều 102 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Thêm nữa, người vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung được quy định tại điểm b khoản 8 của Điều này. Đó là: “Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm b, g, h và q khoản 3, điểm a khoản 4 và khoản 7 Điều này”.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú