Anh bạn tôi được cơ quan điều tra yêu cầu giám định về cấu tạo, tính năng của một thiết bị chuyên dùng, làm cơ sở để quyết định xử lý hình sự hay chuyển xử lý hành chính.
Vì một lý do nào đó, anh ấy chần chừ không muốn đưa ra kết luận giám định thì được thông báo nếu từ chối đưa ra kết luận mà không có lý do chính đáng là vi phạm pháp luật tới mức có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
Xin hỏi các anh chị về quyền và nghĩa vụ của người được yêu cầu giám định tư pháp như trường hợp của anh bạn tôi?
Trả lời
Người giám định, theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật Tố tụng số 101/2015/QH13, “là người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực cần giám định, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật”.
Người giám định tư pháp được quy định tại khoản 5 Điều 2 Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 bao gồm “giám định viên tư pháp và người giám định tư pháp theo vụ việc”.
Trong đó, giám định viên tư pháp là người đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm để thực hiện giám định tư pháp. Người giám định tư pháp theo vụ việc là người đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được trưng cầu, yêu cầu giám định.
Người giám định có quyền và nghĩa vụ được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng số 101/2015/QH13.
Cụ thể, theo khoản 2 của Điều này, người giám định có quyền:
“a) Tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng phải giám định;
b) Yêu cầu cơ quan trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định cung cấp tài liệu cần thiết cho việc kết luận;
c) Tham dự vào việc hỏi cung, lấy lời khai và đặt câu hỏi về những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định;
d) Từ chối thực hiện giám định trong trường hợp thời gian không đủ để tiến hành giám định, các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để kết luận, nội dung yêu cầu giám định vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình;
đ) Ghi riêng ý kiến của mình vào bản kết luận chung nếu không thống nhất với kết luận chung trong trường hợp giám định do tập thể giám định tiến hành;
e) Các quyền khác theo quy định của Luật giám định tư pháp”.
Khoản 3 của Điều này quy định người giám định có nghĩa vụ:
“a) Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện giám định;
c) Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Giám định tư pháp”.
Quyền và nghĩa vụ của giám định viên tư pháp được quy định tại Điều 11 Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 56/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp (có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021) như sau:
“1. Thực hiện giám định theo trưng cầu, yêu cầu của người trưng cầu, người yêu cầu giám định hoặc theo sự phân công của cơ quan, tổ chức được trưng cầu, yêu cầu.
2. Từ chối giám định trong trường hợp nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định không phù hợp với phạm vi chuyên môn hoặc không có đủ năng lực, điều kiện cần thiết cho việc thực hiện giám định; đối tượng giám định, tài liệu liên quan được cung cấp không đầy đủ hoặc không có giá trị để kết luận giám định tư pháp sau khi đã đề nghị người trưng cầu, người yêu cầu giám định bổ sung, làm rõ nhưng không được đáp ứng; thời gian không đủ để thực hiện giám định; tính độc lập, khách quan của việc thực hiện giám định không được bảo đảm. Trường hợp từ chối giám định thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định trưng cầu hoặc yêu cầu giám định, phải thông báo cho người trưng cầu, người yêu cầu giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do.
3. Tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ giám định, kiến thức pháp luật.
4. Thành lập Văn phòng giám định tư pháp khi có đủ điều kiện quy định tại Điều 15 của Luật này.
5. Thành lập, tham gia hội giám định viên tư pháp theo quy định của pháp luật về hội.
6. Hưởng chế độ, chính sách theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
7. Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 23 và khoản 1 Điều 34 của Luật này”.
Việc giám định tư pháp phải đảm bảo nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tuân theo quy chuẩn chuyên môn và quy trình giám định, trung thực, chính xác, khách quan, vô tư, kịp thời, chỉ kết luận về chuyên môn những vấn đề trong phạm vi được yêu cầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định.
Theo khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng số 101/2015/QH13, “người giám định kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận giám định mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự”.
Thực hiện giám định theo trưng cầu, yêu cầu của người trưng cầu, người yêu cầu giám định hoặc theo sự phân công của cơ quan, tổ chức được trưng cầu, yêu cầu là nghĩa vụ của giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc. Cho nên, nếu kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận giám định mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về Từ chối kết luận giám định.
Cụ thể, khoản 1 Điều 383 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi tại điểm I khoản 3 Điều 2 Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 quy định: “Người làm chứng nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này, người giám định, người định giá tài sản, người dịch thuật từ chối khai báo, trốn tránh việc kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm”.
Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm theo quy định tại khoản 2 của Điều này.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú