Giám đốc điều hành của Công ty tôi là người nước ngoài. Sau 19 tháng kể từ ngày bắt đầu làm việc, bao gồm cả thời gian thử việc, đi tập huấn, nghỉ cách ly do bị nhiễm COVID-19, vì một vài lý do ông...
Vậy Công ty có phải trả trợ cấp thôi việc cho ông ấy hay không? Điều kiện và mức chi trả nếu có là như thế nào?
Trả lời
Bộ luật Lao động quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động.
Một trong các đối tượng áp dụng quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, theo khoản 3 Điều 2 Bộ luật này là “Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam”.
Điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về trợ cấp thôi việc như sau:
“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.
Như vậy, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận với người sử dụng lao động thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp thôi việc như sau:
- Đáp ứng điều kiện làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên.
- Mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
- Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động nước ngoài thôi việc.
Lưu ý, theo khoản 1 Điều 8 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định nêu trên cho người lao động, trừ các trường hợp sau:
“a) Người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật Lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội;
b) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật Lao động. Trường hợp được coi là có lý do chính đáng theo quy định tại khoản 4 Điều 125 của Bộ luật Lao động”.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
Theo điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ, tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: “thời gian người lao động đã trực tiếp làm việc; thời gian thử việc; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được người sử dụng lao động trả lương theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; thời gian nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật mà được người sử dụng lao động trả lương; thời gian ngừng việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 111, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo Điều 112, Điều 113, Điều 114, khoản 1 Điều 115; thời gian thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao động theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 176 và thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo Điều 128 của Bộ luật Lao động”.
Theo đó, thời gian người lao động nước ngoài đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động không chỉ là thời gian trực tiếp làm việc, mà còn bao gồm thời gian thử việc, thời gian được cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản; thời gian nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động; thời gian nghỉ hằng tuần...
Giám đốc điều hành người nước ngoài làm việc tại Công ty 19 tháng, hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động thì thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc của người này sẽ được tính là 2 năm làm việc, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Bởi vì, theo điểm c khoản này, “Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng); trường hợp có tháng lẻ ít hơn hoặc bằng 06 tháng được tính bằng 1/2 năm, trên 06 tháng được tính bằng 01 năm làm việc”.
Căn cứ các quy định nêu trên, kiểm tra lại.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú