Theo lịch em làm việc đến hết ngày 28 Tết mới được nghỉ để về quê. Em đã làm đơn xin nghỉ phép 6 ngày cùng với thời gian đương nhiên được nghỉ Tết Nguyên đán để nghỉ ngơi và tham dự đám cưới bạn...
Xin hỏi các anh chị, nghỉ phép là quyền của người lao động, em đã có đơn nhưng không được duyệt thì việc em cứ nghỉ có bị sa thải như Công ty thông báo hay không?
Trả lời
Điều 124 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định các hình thức xử lý kỷ luật lao động gồm:
“1. Khiển trách.
2. Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng.
3. Cách chức.
4. Sa thải”.
Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp được quy định tại Điều 125 của Bộ luật này. Đó là:
1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;
2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;
3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;
4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động”.
Như vậy, nếu sau thời gian được nghỉ Tết nguyên đán bạn không quay trở lại làm việc, tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng (được nêu trên) thì thuộc trường hợp bị áp dụng hình thức kỷ luật sa thải là đúng quy định của pháp luật lao động.
Dù là áp dụng hình thức kỷ luật lao động nào thì cũng phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đảm bảo nguyên tắc người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động; có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xử lý kỷ luật là thành viên; người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động bào chữa; được ghi thành biên bản...
Nghỉ hằng năm, hay thường gọi là nghỉ phép, theo khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:
“a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;
b) 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
c) 16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm”.
Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc. Trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.
Khoản 4 Điều này quy định: “Người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động biết. Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần”.
Có nghĩa là, Công ty có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến và phải thông báo trước cho người lao động biết. Căn cứ lịch đó, người lao động thu xếp công việc để sử dụng quyền và thời gian được nghỉ hằng năm của mình.
Về nguyên tắc, nếu không cho người lao động nghỉ hằng năm theo lịch đã thông báo, Công ty đã vi phạm quy định của pháp luật lao động. Bởi vì, theo khoản 2 Điều 18 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ, “người sử dụng lao động có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về nghỉ hằng tuần hoặc nghỉ hằng năm hoặc nghỉ lễ, tết” bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Tuy nhiên, theo chúng tôi, nếu Công ty chưa thu xếp cho bạn nghỉ hằng năm ngay tiếp sau thời kỳ nghỉ Tết Nguyên đán vì kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty cần triển khai và bạn không có việc cần kíp không thể không nghỉ thì bạn nên cân nhắc quay trở lại làm việc đúng hạn, nghỉ hằng năm vào dịp khác.
Thu Lý
Vũ Thị Thanh Tú