Công ty nơi tôi làm việc do một người làm chủ, nhưng không đứng tên, mà nhân sự được tuyển dụng bao gồm cả Giám đốc điều hành. Công ty thường xuyên nhập khẩu hàng đông lạnh từ các nước Châu Âu,...
Công ty nơi tôi làm việc do một người làm chủ, nhưng không đứng tên, mà nhân sự được tuyển dụng bao gồm cả Giám đốc điều hành.
Công ty thường xuyên nhập khẩu hàng đông lạnh từ các nước Châu Âu, sau đó xuất khẩu sang Trung Quốc theo hình thức tạm nhập - tái xuất. Nếu có lô hàng bị kết luận là buôn lậu hay trốn thuế, liệu Công ty có thể là chủ thể phạm tội hay không? Nếu có thì hình phạt được quy định như thế nào?
Trả lời
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện như được thành lập theo quy định của pháp luật; có cơ cấu tổ chức, tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Pháp nhân thương mại được quy định tại Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:
“1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.
3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Điều 8 Văn bản hợp nhất Bộ luật Hình sự số 01/VBHN-VPQH ngày 10/7/2017 của Văn phòng Quốc hội quy định về khái niệm tội phạm. Cụ thể:
“1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”.
Theo Điều 74 của Bộ luật Hình sự, “pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này”.
Căn cứ quy định nêu trên, có thể thấy pháp nhân thương mại hay là doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác cũng có thể là chủ thể phạm tội. Nội dung này còn được quy định tại các Điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự.
Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 324 của Bộ luật này.
Ví dụ, Điều 188 Bộ luật Hình sự quy định về tội buôn lậu. Theo đó, người nào buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100 đến dưới 300 triệu đồng thì bị phạt tiền từ 50 đến 300 triệu đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm…
Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt từ 300 triệu đồng đến 15 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Điều 200 Bộ luật Hình sự quy định về tội trốn thuế. Pháp nhân thương mại phạm tội đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 300 triệu đến 10 tỷ đồng hoặc bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm, thậm chí đình chỉ vĩnh viễn. Ngoài ra, pháp nhân thương mại còn có thể bị cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 1 đến 3 năm.
Hình phạt, theo Điều 30 Văn bản hợp nhất Bộ luật Hình sự số 01/VBHN-VPQH, “là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó”.
Mục đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại Điều 33 của Văn bản này, gồm có hình phạt chính, hình phạt bổ sung như sau:
“1. Hình phạt chính bao gồm:
a) Phạt tiền;
b) Đình chỉ hoạt động có thời hạn;
c) Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
2. Hình phạt bổ sung bao gồm:
a) Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;
b) Cấm huy động vốn;
c) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.
3. Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung”.
Như vậy, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác nếu bị kết luận có hành vi buôn lậu hoặc trốn thuế, với tư cách là pháp nhân thương mại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng được quy định trong Bộ luật Hình sự. Hình phạt đối với pháp nhân thương mại khác với cá nhân phạm tội, chỉ bao gồm phạt tiền và hình phạt liên quan đến hoạt động của pháp nhân đó. Chẳng hạn, đình chỉ hoạt động, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực, không được huy động vốn...
Bạn cũng cần lưu ý, pháp nhân thương mại chỉ chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 75 Bộ luật Hình sự. Đó là:
“a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;
b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;
c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;
d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này”.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.
Admin Admin Admin