Cách đây 3 tháng, em gái tôi cầm cố chiếc ô tô mà bố mẹ mua cho để vay 300 triệu đồng tại một cửa hàng cầm đồ. Vừa rồi gia đình tôi mới biết chuyện, muốn trả số tiền nêu trên để chuộc lại xe. Tuy...
Cách đây 3 tháng, em gái tôi cầm cố chiếc ô tô mà bố mẹ mua cho để vay 300 triệu đồng tại một cửa hàng cầm đồ. Vừa rồi gia đình tôi mới biết chuyện, muốn trả số tiền nêu trên để chuộc lại xe. Tuy nhiên, chủ cửa hàng cầm đồ yêu cầu ngoài số tiền gốc, phải trả thêm 150 triệu tiền lãi. Nếu không, họ sẽ thanh lý chiếc xe vì khi vay tiền, ngoài hợp đồng cho vay em gái tôi còn ký giấy ủy quyền bán xe cho họ.
Xin hỏi, gia đình tôi có phải chấp nhận mức lãi suất cao như vậy hay không? nếu gia đình tôi báo công an thì chủ cửa hàng cầm đồ có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Em gái bạn và chủ cửa hàng cầm đồ đã thiết lập quan hệ cho vay bằng hợp đồng vay tài sản.
Hợp đồng vay tài sản, theo Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, “là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Cần phải lưu ý, mặc dù hai bên thỏa thuận về việc cho vay tiền, nhưng về nguyên tắc em gái bạn chỉ phải trả lãi nếu trong hợp đồng có thỏa thuận về nội dung này.
Lãi suất được quy định tại Điều 468 của Bộ luật này như sau:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.
Tóm lại, nếu hai bên có thỏa thuận về lãi suất thì mức tối đa cũng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Việc chủ cửa hàng cầm đồ cho em gái bạn vay 300 triệu đồng, trong thời gian 3 tháng mà đã yêu cầu em gái bạn phải trả 150 triệu, tức là bằng khoảng hơn 200%/năm là không đúng quy định của pháp luật nêu trên.
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, hành vi này của chủ cửa hàng cầm đồ có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc hình sự. Cụ thể:
Xử lý vi phạm hành chính:
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi được quy định tại điểm d khoản 3 Điều 11 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Đó là: “Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay”. Đồng thời, người có hành vi vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 5 của Điều này là tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng.
Xử lý hình sự:
Điều 201 Văn bản hợp nhất Bộ luật hình sự số 01/VBHN-VPQH ngày 10/7/2017 của Văn phòng Quốc hội quy định về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như sau:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Vì vậy, gia đình bạn có thể thỏa thuận lại về mức lãi với chủ cửa hàng cầm đồ ở mức hợp lý hai bên cùng chấp nhận và không vượt quá giới hạn do pháp luật quy định. Nếu không, gia đình bạn cũng có thể lựa chọn việc tố cáo hành vi vi phạm của chủ cửa hàng cầm đồ tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được giải quyết.
Admin Admin Admin