Bà Linh đã đăng ký thành lập một trường mầm non tư thục với độ tuổi các cháu từ 3 đến 4 tuổi đăng ký tại địa bàn xã M. Tuy nhiên, để thuận tiện mặt bằng đỗ xe cho phụ huynh khi đưa đón con bà Linh...
Tuy nhiên, tuần trước Ủy ban nhân dân xã M tổ chức kiểm tra đột xuất và lập biên bản, Chủ tịch UBND xã M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền 5.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức hoạt động giáo dục hoặc thực hiện dịch vụ giáo dục ngoài địa điểm được phép, đăng ký. Bà Linh muốn hỏi việc tiến hành xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân xã M có đúng theo quy định của pháp luật hiện hành không?
Trả lời:
* Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
- Theo khoản 4 Điều 10 Nghị định số 127/2018/NĐ-CP ngày 21/9/2018 của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục, quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã “Kiểm tra điều kiện bảo đảm chất lượng chăm sóc, giáo dục của các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập trên địa bàn. Chịu trách nhiệm giải trình về hoạt động giáo dục thuộc phạm vi quản lý”.
- Khoản 2 Điều 35 Nghị định 04/2021/NĐ-CP ngày 22/01/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục như sau: “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh quy định tại các Điều 36, 37 và 38 Nghị định này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của tổ chức; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt cá nhân bằng một phần hai thẩm quyền xử phạt tổ chức”.
- Khoản 1 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Điểm k Khoản 73 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020 quy định thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã:
“a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này” bằng cụm từ “có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này” tại điểm c khoản 1 Điều 38.
d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 28 của Luật này”.
- Khoản 1 Điều 36 Nghị định 04/2021/NĐ-CP ngày 22/01/2021 quy định Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường thị trấn (cấp xã) có quyền:
“a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 10.000.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt quy định tại điểm b khoản này;
d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính”
Đồng thời Khoản 1 Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của những người được quy định từ Điều 38 đến Điều 51 của Luật Xử lý vi phạm hành chính là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt cá nhân và được xác định theo tỉ lệ phần trăm quy định tại Luật này đối với chức danh đó. Do vậy, việc xác định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã căn cứ vào Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 36 Nghị định 04/2021/NĐ-CP, theo đó thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã có quyền phạt tiền đến 10.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục trên địa bàn và thuộc thẩm quyền quản lý.
* Về xác định hành vi vi phạm để xác định mức xử phạt và hình thức xử lý vi phạm
- Khoản 2 Điều 6 Nghị định 04/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền đối với hành vi tổ chức hoạt động giáo dục hoặc thực hiện dịch vụ giáo dục ngoài địa điểm được phép, đăng ký hoặc công nhận theo các mức phạt sau:
“a) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cơ sở giáo dục mầm non;
b) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên, tổ chức thực hiện dịch vụ giáo dục;
c) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với trường trung cấp, trường cao đẳng có đào tạo nhóm ngành giáo viên;
d) Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với cơ sở giáo dục đại học; viện hàn lâm, viện được phép đào tạo trình độ tiến sĩ”.
- Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 04/2021/NĐ-CP ngày 22/01/2021 quy định mức tiền phạt trong lĩnh vực giáo dục như sau:
“3. Mức tiền phạt trong lĩnh vực giáo dục:
a) Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực giáo dục đối với cá nhân là 50.000.000 đồng, đối với tổ chức là 100.000.000 đồng;
b) Mức phạt tiền quy định tại Chương II của Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức, trừ quy định tại khoản 5 Điều 9, khoản 2 Điều 11, khoản 1 và các điểm a, b, c, d, e khoản 3 Điều 14, điểm b khoản 3 Điều 21, khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 29 của Nghị định này là mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Cùng một hành vi vi phạm hành chính, mức phạt tiền đối với cá nhân bằng một phần hai mức phạt tiền đối với tổ chức”.
Như vậy, việc Ủy ban nhân dân xã M kiểm tra đột xuất và tiến hành việc xử phạt vi phạm hành chính cơ sở mầm non tư thục với mức phạt tiền 5.000.000 đồng vì bà Linh đã có hành vi tổ chức hoạt động giáo dục hoặc thực hiện dịch vụ giáo dục ngoài địa điểm được phép, đăng ký là đúng pháp luật. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân xã M còn yêu cầu bà Linh áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc chuyển người học về địa điểm đã được cấp phép hoặc đăng ký hoạt động giáo dục đối với hành vi vi phạm quy định nêu trên.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh