Con gái tôi sinh con gái ngoài giá thú được hơn 2 tháng rồi bỏ đi biệt tích để lại cho tôi là bà ngoại nuôi cháu.
Hiện nay cháu tôi vẫn chưa được đăng ký khai sinh và cũng rất may là tôi vẫn còn giữ được giấy chứng sinh của cháu. Tôi xin hỏi trường hợp của cháu, tôi đi đăng ký khai sinh thay cho mẹ cháu có được không và tôi phải có những giấy tờ gì để khai sinh cho cháu?
Trả lời:
Tại khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch quy định về trách nhiệm đăng ký khai sinh như sau:
“Điều 15. Trách nhiệm đăng ký khai sinh
1. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.”
Theo quy định trên thì bà sẽ là người có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh cho cháu bé.
Do sau khi sinh con, mẹ cháu bé bỏ đi không có thông tin nên cháu bé được xác định là thuộc trường hợp trẻ chưa xác định được cha, mẹ.
Về thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha mẹ được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch về đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ cụ thể như sau:
“Điều 15. Đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ
1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ.”
Như vậy, căn cứ quy định này thì bà cần đến Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn nơi hai bà cháu cư trú để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu.
Về thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha mẹ được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, cụ thể như sau:
“5. Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ không thuộc diện bị bỏ rơi, chưa xác định được cha và mẹ được thực hiện như quy định tại Khoản 3 Điều 14 của Nghị định này; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ chưa xác định được cha, mẹ”.
Khoản 3 Điều 14 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch như sau:
Điều 14. Đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi
…
3. Hết thời hạn niêm yết, nếu không có thông tin về cha, mẹ đẻ của trẻ, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo cho cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ để tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ. Cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em. Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch.
Họ, chữ đệm, tên của trẻ được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không có cơ sở để xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ thì lấy ngày, tháng phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày, tháng sinh; căn cứ thể trạng của trẻ để xác định năm sinh; nơi sinh là nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi; quê quán được xác định theo nơi sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ bị bỏ rơi”.”
Khoản 1, 2 Điều 16 Luật Hộ tịch quy định về thủ tục đăng ký khai sinh như sau:
“Điều 16. Thủ tục đăng ký khai sinh
1. Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật.
2. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này vào Sổ hộ tịch; cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh cá nhân.
Công chức tư pháp - hộ tịch và người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh.”
Như vậy, căn cứ vào quy định tại khoản 5 Điều 15, khoản 3 Điều 14 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và khoản 1, 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch thì khi đi đăng ký khai sinh cho cháu, bà cần phải nộp các giấy tờ sau:
- Tờ khai đăng ký khai sinh theo mẫu quy định;
- Giấy chứng sinh.
Ngoài ra bà cần xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng và sổ hộ khẩu để chứng minh về nhân thân và nơi cư trú.
Nguyễn Tuân
Nguyễn Sỹ Tuấn