Em mới đi làm một tháng tại Xí nghiệp gia công khẩu trang, khăn mặt, khăn tắm. Thời gian làm việc thực tế tính bình quân mỗi ngày đều phải từ 10 đến 12 giờ, lại còn theo ca kíp có cả buổi tối nữa....
Các anh chị cho em hỏi, thời gian làm việc của người lao động tối đa trong một ngày là bao nhiêu giờ?
Trả lời
Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một trong những nội dung chủ yếu của Hợp đồng lao động. Thậm chí, theo khoản 1 Điều 19 Bộ luật Lao động năm 2012, “người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin cho người lao động về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động yêu cầu”.
Tương ứng, người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu.
Thời giờ làm việc bình thường được quy định tại Điều 104 của Bộ luật này như sau:
“1. Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần.
2. Người sử dụng lao động có quyền quy định làm việc theo giờ hoặc ngày hoặc tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 01 tuần.
Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ.
3. Thời giờ làm việc không quá 06 giờ trong 01 ngày đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành”.
Như vậy, thời giờ làm việc bình thường tối đa không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần. Bênh cạnh đó, theo Điều 3 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10/05/2013 của Chính phủ, thời giờ được tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương còn có:
“1. Nghỉ trong giờ làm việc theo quy định tại Điều 5 Nghị định này.
2. Nghỉ giải lao theo tính chất của công việc.
3. Nghỉ cần thiết trong quá trình lao động đã được tính trong định mức lao động cho nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người.
4. Thời giờ nghỉ mỗi ngày 60 phút đối với lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
5. Nghỉ mỗi ngày 30 phút đối với lao động nữ trong thời gian hành kinh.
6. Thời giờ phải ngừng việc không do lỗi của người lao động.
7. Thời giờ học tập, huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động.
8. Thời giờ hội họp, học tập, tập huấn do yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc được người sử dụng lao động đồng ý.
9. Thời giờ hội họp, học tập, tập huấn do công đoàn cấp trên triệu tập cán bộ công đoàn không chuyên trách theo quy định của pháp luật về công đoàn.
10. Thời giờ làm việc được rút ngắn mỗi ngày ít nhất 01 giờ đối với người lao động cao tuổi trong năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu”.
Ngoại thời giờ làm việc bình thường nêu trên, nếu người lao động phải làm việc được tính là làm thêm giờ theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Lao động năm 2012 như sau:
“1. Làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.
2. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Được sự đồng ý của người lao động;
b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;
c) Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ”.
Về nguyên tắc, khi yêu cầu làm thêm giờ, người sử dụng lao động phải được sự đồng ý của người người lao động. Số giờ làm thêm của người lao động không được quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định. Giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau.
Tóm lại, tính cả thời giờ làm việc bình thường và làm thêm giờ, tối đa một ngày người lao động làm việc không quá 12 giờ.
Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định. Tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc. Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau.
Lưu ý, tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm được quy định tại Điều 97 của Bộ luật này như sau:
“1. Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm như sau:
a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;
b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;
c) Vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.
2. Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.
3. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày”.
Bạn nên kiểm tra lại nội dung Hợp đồng đã ký với người sử dụng lao động về thời giờ làm việc. Nếu trong đó ghi nhận thời giờ làm việc bình thường quá 08 giờ trong 01 ngày; trường hợp theo tuần quá 10 giờ trong 01 ngày và quá 48 giờ trong 01 tuần, dù bạn đã ký thì thỏa thuận này vi phạm quy định của pháp luật lao động. Điều đó đồng nghĩa, nếu bạn phải làm việc nhiều thời gian hơn, vào ban đêm, người sử dụng lao động có trách nhiệm tính làm thêm giờ và tiền lương tương ứng cho bạn.
Ngọc Đức
Vũ Thị Thanh Tú