Do hiếm muộn, đã thực hiện nhiều biện pháp can thiệp y khoa nhưng không thành công. Vợ chồng tôi quyết định nhờ người mang thai hộ, tất nhiên có trả cho họ một số tiền tương xứng với công sức và bù...
Nếu hai bên đồng thuận, có văn bản và ký tá đầy đủ thì văn bản này có giá trị pháp lý hay không?
Trong văn bản này, chúng tôi đã nhờ tư vấn và ghi đủ nội dung thông tin về bên nhờ và bên mang thai hộ, cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mỗi bên, bao gồm cả khoản tiền mà vợ chồng tôi trả nếu người này mang thai và sinh con thành công cho vợ chồng tôi.
Trả lời
Pháp luật hiện nay chỉ cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Đó là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.
Theo khoản 23 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác”.
Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, một trong các hành vi bị pháp luật nghiêm cấm tại điểm g khoản 2 Điều 5 của Luật này. Đó là: “mang thai hộ vì mục đích thương mại”.
Theo thông tin của bạn, hai bên có thỏa thuận về mang thai hộ, gồm các nội dung cơ bản như thông tin về bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ, cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ, việc giải quyết hậu quả trong trường hợp có tai biến sản khoa; hỗ trợ để bảo đảm sức khỏe sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con, việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các quyền, nghĩa vụ khác có liên quan, trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận…
Tuy nhiên, vì có mục đích thương mại, cho nên thỏa thuận đó vi phạm điều cấm của pháp luật.
Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội như sau:
“Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”.
Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
Vi phạm điều cấm của pháp luật không chỉ làm cho giao dịch mang thai hộ vì mục đích thương mại bị vô hiệu, mà người vi phạm còn bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan.
Cụ thể, khoản 1 Điều 60 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định: “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, sinh sản vô tính, mang thai hộ vì mục đích thương mại”. Đồng thời, người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, người vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 187 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:
“1. Người nào tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đối với 02 người trở lên;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Có thể thấy, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là chính sách nhân đạo được ban hành nhằm mang lại hạnh phúc cho các cặp vợ chồng hiếm muộn, thể hiện sự tương thân tương ái giữa những người thân thích (cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ), không vì mục đích thương mại. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật. Nếu mang thai vì mục đích thương mại, người vi phạm sẽ bị xử lý như trên.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú