Qua công tác kiểm tra hoạt động của các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn xã P, phát hiện lớp mẫu giáo độc lập do Bà Lanh làm chủ hoạt động nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Chủ...
Bà Lanh đã nộp phạt nhưng rất phân vân nên có hỏi: Quyết định xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P đối với trường hợp của bà có đúng thẩm quyền không?
Trả lời:
- Trước hết xác định trách nhiệm quản lý nhà nước và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về giáo dục của Ủy ban nhân dân xã P
Theo khoản 4 Điều 10 Nghị định số 127/2018/NĐ-CP ngày 21/9/2018 của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục, quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã “Kiểm tra điều kiện bảo đảm chất lượng chăm sóc, giáo dục của các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập trên địa bàn. Chịu trách nhiệm giải trình về hoạt động giáo dục thuộc phạm vi quản lý”.
Khoản 2 Điều 35 Nghị định 04/2021/NĐ-CP ngày 22/01/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục như sau: “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh quy định tại các Điều 36, 37 và 38 Nghị định này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của tổ chức; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt cá nhân bằng một phần hai thẩm quyền xử phạt tổ chức”.
Khoản 1 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Điểm k Khoản 73 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020 quy định thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã:
“a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này” bằng cụm từ “có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này” tại điểm c khoản 1 Điều 38.
d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 28 của Luật này”.
Khoản 1 Điều 36 Nghị định 04/2021/NĐ-CP ngày 22/01/2021 quy định Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường thị trấn (cấp xã) có quyền:
“a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 10.000.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt quy định tại điểm b khoản này;
d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính”
Đồng thời Khoản 1 Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của những người được quy định từ Điều 38 đến Điều 51 của Luật Xử lý vi phạm hành chính là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt cá nhân và được xác định theo tỉ lệ phần trăm quy định tại Luật này đối với chức danh đó. Do vậy, việc xác định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã căn cứ vào Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 36 Nghị định 04/2021/NĐ-CP, theo đó thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã có quyền phạt tiền đến 10.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục trên địa bàn và thuộc thẩm quyền quản lý.
- Xác định hành vi vi phạm để có thể xác định mức xử phạt và hình thức xử lý vi phạm
Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 04/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền đối với hành vi thành lập hoặc cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể; chuyển đổi loại hình cơ sở giáo dục khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép theo các mức phạt sau:
“a) Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập;
b) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với trường mẫu giáo, trường mầm non, nhà trẻ;
c) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên;
d) Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với trường trung cấp có đào tạo nhóm ngành giáo viên;
đ) Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với trường cao đẳng có đào tạo nhóm ngành giáo viên;
e) Từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với cơ sở giáo dục đại học.”
Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 04/2021/NĐ-CP ngày 22/01/2021 quy định mức tiền phạt trong lĩnh vực giáo dục như sau:
“3. Mức tiền phạt trong lĩnh vực giáo dục:
a) Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực giáo dục đối với cá nhân là 50.000.000 đồng, đối với tổ chức là 100.000.000 đồng;
b) Mức phạt tiền quy định tại Chương II của Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức, trừ quy định tại khoản 5 Điều 9, khoản 2 Điều 11, khoản 1 và các điểm a, b, c, d, e khoản 3 Điều 14, điểm b khoản 3 Điều 21, khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 29 của Nghị định này là mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Cùng một hành vi vi phạm hành chính, mức phạt tiền đối với cá nhân bằng một phần hai mức phạt tiền đối với tổ chức”.
Như vậy, hành vi vi phạm của bà Lanh là mở lớp mẫu giáo độc lập để giảng dạy theo các chương trình giáo dục mầm non mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Đối chiếu với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định số 04/2021/NĐ-CP thì mức phạt tiền đối với hành vi thành lập hoặc cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể; chuyển đổi loại hình cơ sở giáo dục khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép là từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập. Theo đó, bà Lanh bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phạt tiền 7.000.000 đồng, đồng thời phải chịu biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm là buộc trả lại cho người học số tiền đã thu. Do vậy, việc ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 7.000.000 đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm là buộc trả lại cho người học số tiền đã thu đối với các cơ sở giáo dục mầm non nêu trên của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P là đảm bảo về thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh