Tôi là người Việt Nam lấy chồng người Nhật Bản (có đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp), 2 chúng tôi sinh sống tại Nhật Bản. Nay tôi về Việt Nam sinh con, cho tôi hỏi là tôi muốn đăng ký khai sinh cho...
Tôi là người Việt Nam lấy chồng người Nhật Bản (có đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp), 2 chúng tôi sinh sống tại Nhật Bản. Nay tôi về Việt Nam sinh con, cho tôi hỏi là tôi muốn đăng ký khai sinh cho con thì đăng ký ở đâu? Con tôi có thể mang quốc tịch Nhật Bản không và thủ tục đăng ký như thế nào?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 35 Luật Hộ tịch quy định thẩm quyền đăng ký khai sinh như sau:
“Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em trong các trường hợp sau đây:
1. Trẻ em được sinh ra tại Việt Nam:
a) Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch;
b) Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước còn người kia là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
c) Có cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
d) Có cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch;”
Như vậy, căn cứ quy định trên thì UBND cấp huyện nơi chị cư trú có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho con chị.
Theo quy định tại Điều 36 Luật hộ tịch thì con chị sinh ra ở Việt Nam, chồng chị là người Nhật Bản thì con chị có thể được khai sinh mang quốc tịch Nhật Bản.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật hộ tịch và Điều 9 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì hồ sơ đăng ký khai sinh bao gồm:
Các giấy tờ phải nộp:
– Tờ khai theo mẫu;
– Bản chính Giấy chứng sinh do bệnh viện, Trung tâm y tế nơi trẻ sinh ra cấp;
– Giấy thỏa thuận của cha mẹ về việc chọn quốc tịch cho con, trường hợp anh chị chọn quốc tịch Nhật Bản cho con thì văn bản này phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Nhật Bản.
Các giấy tờ phải xuất trình:
– Hộ chiếu, Chứng minh nhân dân hoặc Thẻ căn cước công dân; Sổ hộ khẩu; Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ;
Trình tự giải quyết được quy định tại Khoản 2 Điều 36 Luật Hộ tịch cụ thể như sau:
“2. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức làm công tác hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định tại Điều 14 của Luật này vào Sổ hộ tịch; trường hợp trẻ em có quốc tịch nước ngoài thì không ghi nội dung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 của Luật này.
Công chức làm công tác hộ tịch, người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh.”
Admin Admin Admin