Bố mẹ tôi sinh được 4 anh em trai và hiện đều còn Giấy khai sinh và sổ đăng ký khai sinh. Tôi là người đứng thứ 3, sinh năm 1955.
Bố mẹ tôi sinh được 4 anh em trai và hiện đều còn Giấy khai sinh và sổ đăng ký khai sinh. Tôi là người đứng thứ 3, sinh năm 1955. Trong 4 anh em thì 2 người anh và người em út trong Giấy khai sinh ghi bố tôi tên là Nguyễn Hữu Thắng, còn Giấy khai sinh của tôi ghi bố Nguyễn Văn Thăng (ghi theo tên gọi khác – tên thường gọi). Các giấy tờ của bố tôi như Sổ hộ khẩu, Giấy chứng tử,… đều ghi tên Nguyễn Hữu Thắng, tên gọi khác là Nguyễn Văn Thăng. Theo bố tôi khi còn sống có nói là do ông nội tôi đi đăng ký khai sinh cho tôi đã khai tên bố tôi theo tên thường gọi lên xảy ra tình trạng trên. Hiện nay, anh em chúng tôi đang làm giấy tờ nhà đất nhưng tên bố tôi trong Giấy khai sinh của tôi với các anh, em tôi không thống nhất. Tôi hiện có bản sao Lý lịch Đảng viên, trong đó có ghi bố tôi tên Nguyễn Hữu Thắng, tên gọi khác là Nguyễn Văn Thăng và các anh, em tôi. Xin hỏi tôi có được sửa chữ đệm và tên của bố trong Giấy khai sinh không? Nếu được thì tôi phải làm như thế nào?
Trả lời:
Khoản 12, Điều 4 Luật Hộ tịch quy định: “Cải chính hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi những thông tin hộ tịch của cá nhân trong trường hợp có sai sót khi đăng ký hộ tịch.”
Tại Khoản 2, Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định điều kiện thay đổi, cải chính hộ tịch: “Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch”.
Khoản 1, 2, Điều 17, Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch hướng dẫn về cải chính hộ tịch như sau:
“1. Việc cải chính hộ tịch chỉ được giải quyết sau khi xác định có sai sót khi đăng ký hộ tịch; không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác.
2. Sai sót trong đăng ký hộ tịch là sai sót của người đi đăng ký hộ tịch hoặc sai sót của cơ quan đăng ký hộ tịch.”
Như vậy, trường hợp mà ông nêu, do có sự sai sót trong việc khai chữ đệm và tên của người cha theo tên gọi khác khi đăng ký khai sinh, nên căn cứ các quy định nêu trên, ông sẽ được xem xét cải chính chữ đệm và tên của người cha trong bản chính Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của ông.
Thẩm quyền đăng ký cải chính hộ tịch được quy định tại Khoản 3 Điều 46 Luật Hộ tịch: “3. Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc”.
Theo quy định này thì ông có thể lựa chọn cơ quan đăng ký cải chính hộ tịch cho bản thân là Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của bạn hiện nay.
Hồ sơ, thủ tục đăng ký cải chính hộ tịch được quy định tại Điều 47 và Điều 28 Luật Hộ tịch, cụ thể như sau:
“Điều 47. Thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc
1. Thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch được áp dụng theo quy định tại Điều 28 của Luật này.”
“Điều 28. Thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch
1. Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.
3. Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.
Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.”
Theo đó, ông cần chuẩn bị và nộp các giấy tờ: Tờ khai theo mẫu (được quy định tại Phụ lục V kèm theo Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch) và giấy tờ liên quan làm căn cứ cho việc cải chính hộ tịch (Giấy chứng tử, Sổ hộ khẩu của bố ông, bản sao Lý lịch đảng viên của ông,…); xuất trình Bản chính Giấy khai sinh, CMND hoặc CCCD hoặc hộ chiếu của bản thân.
Nguyễn Tuân
Nguyễn Sỹ Tuấn