Mới đây em được thông báo người ký tên, đóng dấu Công ty trên hợp đồng lao động với em không được giám đốc ủy quyền. Em được lựa chọn giữa ký lại hợp đồng lao động hoặc chấm dứt hợp đồng.
Xin hỏi các anh chị, dù em lựa chọn như thế nào, thì việc Công ty tính toán lại tiền lương trong thời gian em đã làm việc theo hợp đồng lao động bị ký sai nêu theo mức lương tối thiểu vùng (thấp hơn mức lương đã ghi trong hợp đồng lao động) là đúng hay sai?
Trả lời
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
Theo khoản 3 Điều 18 Bộ luật Lao động năm 2019, người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
“a) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;
b) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;
c) Người đại diện của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;
d) Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động”.
Người được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động không được ủy quyền lại cho người khác giao kết hợp đồng lao động.
Về nguyên tắc, giao kết hợp đồng lao động dựa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực. Tự do giao kết nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.
Một trong những trường hợp hợp đồng lao động bị vô hiệu toàn bộ, theo điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019 là “người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”.
Chính vì vậy, nếu hợp đồng lao động mà bạn đã ký với người không phải là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật thì hợp đồng lao động đó bị vô hiệu toàn bộ.
Tòa án nhân dân có quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Theo điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, “Tòa án nơi giao kết hoặc thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể đó vô hiệu”.
Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần, quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng; trường hợp không có thỏa ước lao động tập thể thì thực hiện theo quy định của pháp luật; hai bên tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để phù hợp với thỏa ước lao động tập thể hoặc pháp luật về lao động. Hợp đồng vô hiệu toàn bộ như trường hợp bạn đề nghị tư vấn, theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật này, “thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động được giải quyết theo quy định của pháp luật; trường hợp do ký sai thẩm quyền thì hai bên ký lại”.
Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ do người ký sai thẩm quyền, nếu hai bên vẫn tiếp tục thỏa thuận xác lập quan hệ lao động, người lao động và người sử dụng lao động ký lại hợp đồng lao động là đúng quy định của pháp luật.
Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi hợp đồng lao động được ký lại được hướng dẫn thực hiện tại Điều 10 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ. Cụ thể:
“a) Nếu quyền, lợi ích của mỗi bên trong hợp đồng lao động không thấp hơn quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động được thực hiện theo nội dung hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu;
b) Nếu hợp đồng lao động có nội dung về quyền, nghĩa vụ, lợi ích của mỗi bên vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến phần nội dung khác của hợp đồng lao động thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động thực hiện theo khoản 2 Điều 9 Nghị định này;
c) Thời gian người lao động làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian làm việc của người lao động cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động”.
Trường hợp không ký lại hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, theo khoản 3 của Điều này thì thực hiện như sau:
“a) Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này;
c) Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 8 Nghị định này”.
Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
Bạn không nói rõ khi phát hiện hợp đồng lao động ký sai thẩm quyền, hai bên có tiếp tục thỏa thuận xác lập quan hệ lao động hay không, nên cần đối chiếu với quy định nêu trên cho từng trường hợp để thực hiện. Trong trường hợp nào thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi hợp đồng lao động được ký lại hoặc cho đến khi chấm dứt hợp đồng lao động đều phải đảm bảo không thấp hơn quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng. Trường hợp trong hợp đồng thể hiện thỏa thuận về mức lương cao hơn, thì quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động được thực hiện theo nội dung hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú