Chuyển về nơi làm việc mới, thấy anh H có những đức tính tốt nên chị B phát sinh tình cảm với anh H. Về phía anh H, mặc dù đã có vợ nhưng vẫn đáp lại tình cảm của chị B. Sau một thời gian, chị B đã...
chị B yêu cầu anh H làm thủ tục nhận cháu F là con đẻ để đảm bảo quyền lợi của cháu. Anh H không đồng ý, nói rằng anh đã có vợ, vợ anh không đồng ý nên anh không thể nhận cháu F là con. Đề nghị cho biết, nếu anh H không đồng ý, chị B có thể đề nghị cơ quan nào giải quyết yêu cầu xác định anh H là cha đẻ của cháu F? Trường hợp vợ anh H không đồng ý, anh H có quyền yêu cầu xác định cháu F là con đẻ của mình được không?
Trả lời:
- Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năn 2014 quy định xác định cha, mẹ:
“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”.
- Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năn 2014 quy định xác định con
“1. Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.
2. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình”.
- Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năn 2014 quy định về thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con như sau:
“1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.
2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.
Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”.
- Khoản 2 Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình năn 2014 quy định về quyền nhận con như sau: “Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia”.
Trong trường hợp, anh H không đồng ý nhận cháu F là con đẻ, được xác định là trường hợp có tranh chấp, do đó chị B có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định cha cho con. Nếu trường hợp vợ anh H không đồng ý, anh vẫn H có quyền yêu cầu xác định cháu F là con đẻ của mình.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh