Năm 2020 tôi được UBND xã T cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn với anh P (hộ khẩu thường trú tại xã X, huyện Y) tại Ủy ban nhân dân xã X. Tuy nhiên chúng tôi chưa kịp đăng ký...
Sau thời gian lo toan công việc của hai bên ổn định, giờ chúng tôi muốn làm thủ tục đăng ký kết hôn nhưng tôi không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã cấp năm 2020 (do tôi làm thất lạc) nên Ủy ban nhân xã T không cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho tôi. Vậy tôi phải làm gì để đăng ký được kết hôn?
Trả lời:
- Khoản 1, 6 Điều 21 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định:
“1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
“6. Trường hợp cá nhân yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác hoặc do Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã hết thời hạn sử dụng theo quy định tại Điều 23 của Nghị định này, thì phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó”.
- Khoản 1 Điều 12 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp hướng dẫn Luật hộ tịch và Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch quy định:
“Trường hợp người yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn mà không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đây, thì người yêu cầu phải trình bày rõ lý do không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản trao đổi với nơi dự định đăng ký kết hôn trước đây để xác minh. Trường hợp không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư này”.
- Điều 4 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định:
“Trường hợp việc đăng ký hộ tịch cần xác minh theo quy định tại khoản 4 Điều 22, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và khoản 4 Điều 9, khoản 1 Điều 12 Thông tư này, sau thời hạn 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu xác minh mà không nhận được văn bản trả lời, thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp tục giải quyết hồ sơ theo quy định. Đối với trường hợp xác minh về tình trạng hôn nhân thì cho phép người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình theo quy định tại Điều 5 Thông tư này”.
- Điều 5 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định:
“Trường hợp cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung yêu cầu đăng ký hộ tịch thì cơ quan đăng ký hộ tịch phải giải thích rõ cho người lập văn bản cam đoan về trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan không đúng sự thật.
Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan không đúng sự thật”.
Như vậy, trường hợp của bạn để được cấp lại giấy xác nhận tình trạng hôn nhân khi không nộp lại được giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã cấp trước đây, bạn đến Ủy ban nhân dân xã T (nơi cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho bạn) đề nghị cấp lại giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và có văn bản trình bày rõ lý do không còn giữ được giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cũ. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, UBND xã T có văn bản trao đổi với UBND xã X nơi dự định đăng ký kết hôn trước đây để xác minh. Trường hợp không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân. Trường hợp cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung yêu cầu đăng ký hộ tịch thì cán bộ Hộ tịch xã H giải thích rõ cho bạn về văn bản cam đoan về trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan không đúng sự thật. UBND xã T sẽ từ chối giải quyết hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan không đúng sự thật.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh