Tôi muốn hỏi hành vi sử dụng xe ô tô đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc đối với chức danh không có tiêu chuẩn; sử dụng xe ô tô phục vụ công tác cho các chức danh không có tiêu chuẩn sử dụng xe mà...
Tôi muốn hỏi hành vi sử dụng xe ô tô đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc đối với chức danh không có tiêu chuẩn; sử dụng xe ô tô phục vụ công tác cho các chức danh không có tiêu chuẩn sử dụng xe mà không được cấp có thẩm quyền phê duyệt; giao, sử dụng xe ô tô vào mục đích cá nhân thì bị xử lý như thế nào? Ai có thẩm quyền xử phạt?
Trả lời:
Xe ô tô được sử dụng tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng và Nhà nước hay còn gọi là xe công được xếp vào dạng tài sản công theo quy định của Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017. Bởi vậy, nếu tổ chức, cá nhân có hành vi sử dụng xe công vào mục đích riêng như: đi chùa, đi lễ, đi việc riêng ... sẽ bị coi là hành vi vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm theo quy định tại Khoản 4 Điều 10 Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, cụ thể:
“Điều 10. Các hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý, sử dụng tài sản công
4. Sử dụng xe ô tô và tài sản công khác do tổ chức, cá nhân tặng cho không đúng mục đích, chế độ, vượt tiêu chuẩn, định mức.”
Kể từ ngày 01/9/2019, mọi hành vi sử dụng xe công sai mục đích, chế độ, vượt tiêu chuẩn, địch mức sẽ bị xử phạt hành chính theo Nghị định số 63/2019/NĐ-CP ngày 11/7/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước. Tại điểm c Khoản 2 Điều 8 Mục 1 Chương II Nghị định này quy định như sau:
“Điều 8. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về giao, sử dụng tài sản công, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản công
2. Phạt tiền đối với hành vi giao, sử dụng tài sản công không đúng mục đích (sử dụng tài sản công không đúng với mục đích, công năng sử dụng của tài sản được đầu tư, trang bị, mua sắm; sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp làm nhà ở hoặc sử dụng vào mục đích cá nhân; sử dụng xe ô tô đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc đối với chức danh không có tiêu chuẩn; sử dụng xe ô tô phục vụ công tác cho các chức danh không có tiêu chuẩn sử dụng xe mà không được cấp có thẩm quyền phê duyệt; giao, sử dụng xe ô tô vào mục đích cá nhân; sử dụng máy móc, thiết bị, tài sản khác vào mục đích cá nhân) theo các mức phạt sau:
c) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp giao, sử dụng tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô.”
Mức phạt tiền vừa nêu là mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với cá nhân bằng một phần hai mức phạt tiền đối với tổ chức, theo quy định tại Điều 5 Nghị định 63/2019/NĐ-CP:
“Điều 5. Áp dụng mức phạt tiền
Mức phạt tiền quy định tại mục 1, mục 2, mục 3 và mục 4 Chương II, mục 1 Chương III, mục 1 Chương IV, mục 1 và mục 2 Chương V Nghị định này là mức phạt tiền quy định đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức; cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức (trừ quy định tại Điều 17, Điều 23, Điều 27 Nghị định này).”
Như vậy, Nghị định 63/2019/NĐ-CP đã quy định phạt tiền từ 10-20 triệu đồng với tổ chức (từ 5-10 triệu đồng với cá nhân) đối với hành vi sử dụng xe ô tô đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc đối với chức danh không có tiêu chuẩn; sử dụng xe ô tô phục vụ công tác cho các chức danh không có tiêu chuẩn sử dụng xe mà không được cấp có thẩm quyền phê duyệt; giao, sử dụng xe ô tô vào mục đích cá nhân
Ngoài ra, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công đối với hành vi này là 1 năm và thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính được quy định tại Điều 28 Nghị định 63/2019/NĐ-CP, cụ thể:
“Điều 28. Thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công
1. Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công gồm:
a) Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công quy định tại Điều 29, Điều 30 Nghị định này;
b) Công chức được giao nhiệm vụ kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.
2. Người có thẩm quyền lập biên bản quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm ra quyết định xử phạt theo thẩm quyền hoặc chuyển cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 29, Điều 30 Nghị định này ra quyết định xử phạt.”
Trên cơ sở quy định vừa nêu, đối chiếu các quy định tại Điều 29, Điều 30 Nghị định 63/2019/NĐ-CP thì thẩm quyền ra quyết định xử phạt đối với hành vi này được xác định như sau:
- Về thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân:
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện;
- Về thẩm quyền xử phạt của Thanh tra:
1. Chánh Thanh tra bộ;
2. Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp bộ;
3. Chánh Thanh tra sở, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở.
Vinh Hiển
Admin PBGDPL