Tôi được cảnh sát giải thích về lỗi hành vi vi phạm của tôi được xác định do đoạn đường xe ô tô con của tôi lưu thông là khu vực ngoài khu đông dân cư, có vạch đôi màu vàng, nét liền ở tim đường...
Trả lời: Để trả lời cho câu hỏi của bạn, trước hết bạn cần nắm được tốc độ tối đa cho phép của xe ô tô con khi tham gia giao thông trên đường ngoài khu vực đông dân cư (trừ đường cao tốc) theo quy định tại Điều 7 Thông tư số 39/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải (có hiệu lực từ ngày 15/10/2019) quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, như sau: Điều 7. Tốc độ tối đa cho phép xe cơ giới tham gia giao thông ngoài khu vực đông dân cư (trừ đường cao tốc) Loại xe cơ giới đường bộ Tốc độ tối đa (km/h) Đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên Đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới Xe ô tô con, xe ô tô chở người đến 30 chỗ (trừ xe buýt); ô tô tải có trọng tải nhỏ hơn hoặc bằng 3,5 tấn. 90 80 Tại Khoản 5, Khoản 6, Khoản 8 Điều 3 Thông tư số 39/2019/TT-BGTVT đã quy định các dạng đường bộ về cách hiểu được xác định như sau: “Điều 3. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 5. Dải phân cách giữa là bộ phận của đường mà xe không chạy trên đó, được dùng để phân chia mặt đường thành hai phần xe chạy ngược chiều riêng biệt (các dạng chủ yếu: bó vỉa, dải phân cách kết cấu bê tông, dải phân cách kết cấu thép, hộ lan tôn sóng hoặc dải đất dự trữ). 6. Đường đôi là đường có chiều đi và chiều về được phân biệt bằng dải phân cách giữa (trường hợp phân biệt bằng vạch sơn thì không phải đường đôi). 8. Đường hai chiều là đường có cả hai chiều đi và chiều về trên cùng một phần đường xe chạy, không được phân biệt bằng dải phân cách giữa.”. Ngoài ra, về dạng “vạch đôi, nét liền, phân chia hai chiều xe chạy ngược chiều (gọi tắt là Vạch 1.3)” theo quy định trích tại điểm c Khoản 1.1 Mục G.1 Phụ lục G Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ (Mã số đăng ký: QCVN 41:2016/BGTVT) ban hành kèm theo Thông tư số 06/2016/TT-BGTVT ngày 08/04/2016 của Bộ Giao thông vận tải (gọi tắt là Quy chuẩn 41/2016) cần được hiểu như sau: “G1. Vạch dọc đường 1.1. Nhóm vạch phân chia hai chiều xe chạy c. Vạch 1.3: Vạch phân chia hai chiều xe chạy ngược chiều (vạch tim đường), dạng vạch đôi, nét liền Áp dụng: - Dùng để phân chia hai chiều xe chạy cho đường có từ 4 làn xe trở lên, không có dải phân cách giữa, xe không được lấn làn, không được đè lên vạch. Vạch này thường sử dụng ở đoạn đường không đảm bảo tầm nhìn vượt xe, nguy cơ tai nạn giao thông đối đầu lớn hoặc ở các vị trí cần thiết khác. - Trường hợp các đường có 2 hoặc 3 làn xe, không có dải phân cách giữa có thể sử dụng vạch 1.3 ở các vị trí cần thiết để nhấn mạnh mức độ nguy hiểm, không được lấn làn, không được đè lên vạch. Tác dụng của vạch 1.3 trong trường hợp này tương tự vạch 1.2. Quy cách: Vạch 1.3 là vạch đôi song song, liền nét, màu vàng, bề rộng nét vẽ b = 15 cm, khoảng cách phía trong hai mép vạch đơn nhỏ nhất là 15 cm; lớn nhất là 50 cm. Trong trường hợp khoảng cách hai mép phía trong của các vạch đơn lớn hơn 50 cm thì phải sử dụng vạch kênh hóa dòng xe dạng gạch chéo, màu vàng (vạch 4.1).” Như vậy, trên cơ sở các quy định nêu trên, vạch 1.3 màu vàng được dùng để phân chia hai chiều xe chạy cho đường có từ 4 làn xe trở lên, không có dải phân cách giữa, xe không được lấn làn, không được đè lên vạch; Vạch này thường sử dụng ở đoạn đường không đảm bảo tầm nhìn vượt xe, nguy cơ tai nạn giao thông đối đầu lớn hoặc ở các vị trí cần thiết khác và trường hợp đường có cả hai chiều đi và chiều về trên cùng một phần đường xe chạy mà được phân biệt bằng vạch sơn này thì được xác định là đường hai chiều, do đó, tốc độ tối đa cho phép của xe ô tô con trên dạng đường này ở ngoài khu đông dân cư là 80 km/h trong khi bạn lại điều khiển phương tiện của mình với tốc độ là 90 km/h. Bởi vậy, việc cảnh sát giao thông yêu cầu bạn dừng phương tiện và lập biên bản xử phạt bạn 2.000.000 đồng với lỗi chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h là đúng quy định của pháp luật. Theo đó, căn cứ xử phạt được quy định tại điểm đ Khoản 6 Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 (có hiệu lực từ ngày 01/8/2016) của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (gọi tắt là Nghị định số 46/2016/NĐ-CP), cụ thể: “Điều 5. Xử phạt người điều khiển, người được chở trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ 6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: đ) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h.”. Vinh Hiển
admin admin