Vì điều kiện làm việc của Công ty nơi chúng tôi làm việc có nhiều thay đổi so với trước. Thoả ước lao động tập thể mới đã được dự thảo. Nghe nói cần có thảo luận, đàm phán với Ban Giám đốc về các...
Xin hỏi, pháp luật hiện nay có bắt buộc phải tổ chức định kỳ cuộc họp thương lượng tập thể hay không? Trả lời Theo Điều 66 Bộ luật Lao động năm 2012, thương lượng tập thể là việc tập thể lao động thảo luận, đàm phán với người sử dụng lao động nhằm mục đích sau đây: “1. Xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; 2. Xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết thoả ước lao động tập thể; 3. Giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”. Thương lượng tập thể được tiến hành theo nguyên tắc thiện chí, bình đẳng, hợp tác, công khai và minh bạch. Thương lượng tập thể được thực hiện tại địa điểm do hai bên thỏa thuận. Đúng như bạn nêu, theo khoản 2 Điều 67 của Bộ luật này, “thương lượng tập thể được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất”. Cụ thể, Điều 16 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định: “Thương lượng tập thể định kỳ theo quy định tại Khoản 2 Điều 67 của Bộ luật Lao động được tiến hành ít nhất một năm một lần. Thời điểm tiến hành thương lượng tập thể định kỳ do hai bên thỏa thuận”. Hướng dẫn nội dung này, Điều 3 Thông tư số 29/2015/TT-BLĐTBXH ngày 31/7/2015 củ Bộ trưởng Bộ lao động - Thương binh và Xã hội quy định: “1. Thương lượng tập thể định kỳ được tiến hành ít nhất một năm một lần, khoảng cách giữa hai lần thương lượng tập thể định kỳ liền kề tối đa không quá 12 tháng; 2. Đại diện hai bên thương lượng thỏa thuận về số lần, thời gian tiến hành thương lượng tập thể định kỳ hằng năm và thống nhất bằng văn bản có chữ ký của các bên tham gia để làm căn cứ tiến hành thương lượng; 3. Nguyên tắc, quyền yêu cầu, đại diện, nội dung, quy trình thương lượng tập thể định kỳ thực hiện theo quy định tại các Điều 67, 68, 69, 70, 71 của Bộ luật Lao động”. Mỗi bên đều có quyền yêu cầu thương lượng tập thể, bên nhận được yêu cầu không được từ chối việc thương lượng. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng, các bên thoả thuận thời gian bắt đầu phiên họp thương lượng. Trường hợp một bên không thể tham gia phiên họp thương lượng đúng thời điểm bắt đầu thương lượng theo thỏa thuận, thì có quyền đề nghị hoãn, nhưng thời điểm bắt đầu thương lượng không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng tập thể. Trường hợp một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn quy định tại Điều này thì bên kia có quyền tiến hành các thủ tục yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật. Số lượng người tham dự phiên họp thương lượng của mỗi bên do hai bên thoả thuận, nhưng đại diện thương lượng tập thể phải đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Bộ luật Lao động năm 2012 như sau: “a) Bên tập thể lao động trong thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp là tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở; thương lượng tập thể phạm vi ngành là đại diện Ban chấp hành công đoàn ngành; b) Bên người sử dụng lao động trong thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp là người sử dụng lao động hoặc người đại diện cho người sử dụng lao động; thương lượng tập thể phạm vi ngành là đại diện của tổ chức đại diện người sử dụng lao động ngành”. Nội dung thương lượng tập thể bao gồm tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp và nâng lương; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa ca; bảo đảm việc làm đối với người lao động; bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động; thực hiện nội quy lao động; nội dung khác mà hai bên quan tâm. Hùng Phi
admin admin