Em muốn biết, vợ chồng kết hôn lần hai đã có con riêng thì được sinh thêm bao nhiêu con là không vi phạm chính sách dân số? Chủ doanh nghiệp có quyền hủy bỏ hợp đồng lao động đối với phụ nữ mang...
Trả lời
Quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực hiện cuộc vận động dân số và kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản được quy định tại Điều 10 Pháp lệnh dân số năm 2003, được sửa đổi, bổ sung năm 2008 của Ủy ban thường vụ Quốc hội như sau:
“1. Quyết định thời gian và khoảng cách sinh con;
2. Sinh một hoặc hai con, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định;
3. Bảo vệ sức khỏe, thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến sức khỏe sinh sản”.
Về nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân bao gồm quyết định thời gian và khoảng cách sinh con, sinh một hoặc hai con, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.
Những trường hợp không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con được quy định cụ thể tại Điều 2 Nghị định số 20/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 18/2011/NĐ-CP ngày 17/3/2011 của Chính phủ. Đó là:
“1. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
2. Cặp vợ chồng sinh con lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên.
3. Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên.
4. Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi.
5. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận.
6. Cặp vợ chồng đã có con riêng (con đẻ):
a) Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai người đã có con riêng (con đẻ);
b) Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai người đã có con riêng (con đẻ). Quy định này không áp dụng cho trường hợp hai người đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống.
7. Phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh”.
Như vậy, nếu nếu cả hai người đã có con riêng là con đẻ, sinh một con hoặc hai con trở lên trong một lần sinh thì không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con.
Trường hợp cả hai người đã có hai con chung trở lên là con đẻ, sau đó tái hôn (kết hôn lại) thì không được áp dụng quy định này. Nói cách khác, vợ chồng bạn vi phạm quy định sinh một hoặc hai con.
Như vậy, việc người sử dụng lao động yêu cầu lao động nữ cam kết không mang thai đã can thiệp, cản trở quyền tự do quyết định thời điểm sinh con của cá nhân. Đây là hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Vì vậy, dù người lao động có đồng ý ký vào bản cam kết không mang thai khi làm việc thì văn bản này cũng không có giá trị pháp lý.
Theo khoản 1 Điều 24 Bộ luật Lao động năm 2019, “Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc”.
Điều 27 của Bộ luật này quy định về kết thúc thời gian thử việc như sau:
“1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.
Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.
Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.
2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường”.
Căn cứ các quy định nêu trên, nếu chưa kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường cho người lao động.
Nhưng nếu đã kết thúc thời gian thử việc thì người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động. Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp không được hủy bỏ hợp đồng lao động đã ký (có điều khoản về việc thử việc) hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc, cho dù trước đó người lao động vi phạm cam kết không mang thai.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú