Cách đây hơn 1 tháng em có mang chiếc điện thoại cấm cố tại cửa hàng cầm đồ để vay một khoản tiền. Vì không trả được đúng hạn, chủ cửa hàng thông báo sẽ bán chiếc điện thoại của em để thu nợ, nếu...
Không biết cửa hàng cầm đồ có quyền làm như vậy hay không? Việc định giá chiếc máy tính là tài sản cầm cố thực hiện như thế nào?
Trả lời
Hợp đồng vay tài sản, theo Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, “là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn. Thông tin cho thấy, bạn đã vi phạm nghĩa vụ này với người cho vay là chủ cửa hàng cầm đồ. Tuy nhiên, trong phạm vi cần giải đáp của bạn về việc chuộc lại chiếc máy tính cầm cố để vay tiền, chúng tôi xin trả lời như sau:
Theo Điều 309 của Bộ luật này, “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”.
Bên cầm cố có nghĩa vụ giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận; báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố; thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Một trong các quyền của bên cầm cố được quy định tại khoản 2 Điều 312 của Bộ luật này là “yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt”. Tương ứng, bên nhận cầm cố có nghĩa vụ được quy định tại khoản 4 Điều 313 của Bộ luật này là “trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác”.
Bên cầm cố có quyền xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật như bán đấu giá tài sản; bên nhận cầm cố tự bán tài sản; bên nhận cầm cố nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay…
Điều 305 của Bộ luật này quy định về việc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm như sau:
“1. Bên nhận bảo đảm được quyền nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm nếu có thỏa thuận khi xác lập giao dịch bảo đảm.
2. Trường hợp không có thỏa thuận theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên nhận bảo đảm chỉ được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ khi bên bảo đảm đồng ý bằng văn bản.
3. Trường hợp giá trị của tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bên bảo đảm; trường hợp giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm.
4. Bên bảo đảm có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên nhận bảo đảm theo quy định của pháp luật”.
Khi hai bên xác lập giao dịch cầm cố có thỏa thuận về việc bên vay không trả được nợ khi đến hạn thì bên cho vay có quyền nhận chính tài sản cầm cố để thu hồi nợ thì bên cho vay, cũng là chủ cửa hàng cầm đồ đã thực hiện đúng thỏa thuận và quy định của pháp luật.
Trường hợp không có thuận tại thời điểm đó thì cần có sự đồng ý bằng văn bản của bên cầm cố, cũng là bên vay.
Việc định giá tài sản bảo đảm, về nguyên tắc phải thực hiện theo quy định tại Điều 306 của Bộ luật này. Đó là:
“1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm.
Trường hợp không có thỏa thuận thì tài sản được định giá thông qua tổ chức định giá tài sản.
2. Việc định giá tài sản bảo đảm phải bảo đảm khách quan, phù hợp với giá thị trường.
3. Tổ chức định giá phải bồi thường thiệt hại nếu có hành vi trái pháp luật mà gây thiệt hại cho bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm trong quá trình định giá tài sản bảo đảm”.
Số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm. Ngược lại, số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú