Tôi bị lưu lạc từ nhỏ, hiện nay tôi đã 57 tuổi. Vừa qua, tôi may mắn gặp được người anh họ và tôi đã tìm được gia đình mình. Tuy nhiên, bố mẹ tôi đều đã mất
. Xin hỏi, tôi có được nhận cha, mẹ của mình không? Nếu được thì tôi phải chuẩn bị giấy tờ gì? Thủ tục giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Khoản 1, Điều 90 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định “Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết”.
Tại khoản 1, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định “Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 101 của Luật này”.
Khoản 1, Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con: “Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp”.
Như vậy, việc ông bị thất lạc từ nhỏ và hiện nay đã tìm ra gia đình, cha mẹ của mình, thì ông có quyền làm thủ tục nhận cha, mẹ, nếu việc nhận cha, mẹ của ông là tự nguyện và không có tranh chấp.
Ông cần đến Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của mình hoặc Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của người được nhận để làm thủ tục nhận cha, mẹ theo quy định tại Điều 24 Luật Hộ tịch: “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con”.
Về hồ sơ, giấy tờ để làm thủ tục nhận cha, mẹ được quy định tại khoản 1, Điều 25 Luật Hộ tịch, cụ thể như sau:
“1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.”
Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con được quy định tại Điều 14 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp như sau:
“Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:
1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.
2. Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 5 Thông tư này, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.”
Như vậy, theo các quy định trên thì khi làm thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, ông cần chuẩn bị hồ sơ gồm các giấy tờ như: Tờ khai theo mẫu quy định; chứng cứ chứng minh quan hệ cha, me, con (Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con. Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con) và xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, CMND, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng để chứng minh về nhân thân (theo quy định tại khoản 1, Điều 2, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch).
Thủ tục giải quyết việc nhận cha, mẹ được quy định tại khoản 2, Điều 25, Luật Hộ tịch, cụ thể như sau:
“2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc.”
Nguyễn Tuân
Nguyễn Sỹ Tuấn