Tôi là con nuôi nhưng không làm giấy tờ chính thức tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì có mâu thuẫn với gia đình nên bố nuôi ở cùng vợ chồng tôi gần chục năm cho đến lúc ông nhắm mắt xuôi tay.
Có thể vì thế mà di chúc ông để lại tài sản là thửa đất cho mỗi mình tôi, không cho vợ và con đẻ hưởng.
Tôi cũng không muốn nhận cả như vậy nhưng vì để làm chỗ thờ cúng bố nuôi, cũng là kỷ niệm ông để lại thì trong trường hợp di chúc như vậy, vợ và con đẻ của ông có quyền đòi chia thừa kế hay không?
Trả lời
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Theo khoản 1 Điều 625 Bộ luật Dân sự năm 2015, “người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình”.
Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
Di chúc gồm các nội dung chủ yếu được quy định tại khoản 1 Điều 631 của Bộ luật này như sau:
“a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản”.
Ngoài các nội dung nêu trên, di chúc có thể có các nội dung khác. Vì là quyền dân sự, thể hiện quyền định đoạt về tài sản của cá nhân nên chủ sở hữu có quyền lập nhiều bản di chúc khác nhau. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
Theo khoản 5 Điều 643 của Bộ luật này, “Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực”.
Người được chỉ định nhận thừa kế, nếu không thuộc trường hợp không được nhận di sản thì khi di chúc có hiệu lực pháp luật, người này có quyền nhận di sản theo đúng nội dung của di chúc. Nói cách khác, về nguyên tắc khi bản di chúc cuối cùng ghi nhận bạn có quyền nhận di sản phát sinh hiệu lực, bạn sẽ được hưởng di sản ghi trong đó do người lập di chúc để lại.
Tuy nhiên, Điều 644 của Bộ luật này quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Cụ thể:
“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này”.
Điều 651 của Bộ luật này quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
Cho nên, mặc dù chỉ có bạn được chỉ định nhận thừa kế theo di chúc, nhưng con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con thành niên mà không có khả năng lao động của bố nuôi bạn vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú