Vợ chồng tôi nay hơn 70 tuổi. Chúng tôi có 4 người con. Đứa con trai út 35 tuổi đã lập gia đình, có 1 con gái 6 tuổi. Tuy nhiên, người con này thường hay cờ bạc, không lo làm ăn để nuôi gia đình....
có căn nhà đang ở và một số tài sản khác như sổ tiết kiệm trị giá 2 tỉ đồng, 10 cây vàng. Vậy chúng tôi có thể lập di chúc, sau khi mất đi không cho người con trai út được hưởng quyền thừa kế và muốn để suất đó cho cháu gái 6 tuổi được không? Tôi cũng không muốn người con dâu được giữ tài sản, mà đợi khi cháu tôi đủ 18 tuổi được toàn quyền định đoạt tài sản? Tôi cần phải đến đâu để lập di chúc, thủ tục, quy trình ra sao?
Trả lời:
- Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền của người lập di chúc như sau:
“Người lập di chúc có quyền sau đây:
1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
- Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này”.
- Điều 617 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định Nghĩa vụ của người quản lý di sản:
“1. Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:
a) Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
b) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản;
c) Thông báo về tình trạng di sản cho những người thừa kế;
d) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;
đ) Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế.
2. Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác;
b) Thông báo về di sản cho những người thừa kế;
c) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;
d) Giao lại di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế”.
- Điều 618 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định Quyền của người quản lý di sản:
“1. Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:
a) Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế;
b) Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế;
c) Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.
2. Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:
a) Được tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế;
b) Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế;
c) Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.
3. Trường hợp không đạt được thỏa thuận với những người thừa kế về mức thù lao thì người quản lý di sản được hưởng một khoản thù lao hợp lý”.
- Điều 76 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quản lý tài sản riêng của con:
“1. Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.
2. Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác.
3. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
4. Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự”.
Theo quy định, người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế và truất quyền của bất kỳ người thừa kế nào. Tuy nhiên, luật cũng bảo vệ một số người là "người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc" như vợ/chồng, cha, mẹ, con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động (được tối thiểu 2/3 suất theo pháp luật) tại điều 644 bộ luật Dân sự. Con út của ông, bà 35 tuổi, nếu không mất khả năng lao động, không nằm trong nhóm "người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc" thì vợ chồng ông, bà có quyền truất quyền thừa kế. Ngoài ra, nếu con út của ông bà có những hành vi như cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc ngược đãi, hành hạ, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của ông bà được quy định tại khoản 1 điều 621 bộ luật Dân sự, cũng không được quyền hưởng di sản, trừ trường hợp được ông, bà đồng ý. Ông, bà nên làm 2 bản di chúc riêng (mỗi người một bản), có công chứng, trong đó truất quyền con út, chỉ định cháu gái 6 tuổi là người thừa kế, chỉ định người quản lý và giám sát, loại trừ quyền quản lý của cha/mẹ cháu và ràng buộc phạm vi sử dụng tài sản đến khi cháu đủ 18 tuổi. Nếu thực hiện đúng hình thức, nội dung, quy trình như trên sẽ giúp bảo đảm ý chí của ông, bà, hạn chế tối đa tranh chấp về sau.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh