Trung tâm Tư vấn pháp luật A có địa chỉ trụ sở tại quận B thực hiện tư vấn pháp luật các lĩnh vực pháp luật. Trong quá trình hoạt động, Trung tâm đã không niêm yết mức thù lao tư vấn pháp luật tại...
tư vấn biết về mức thù lao. Hành vi của Trung tâm Tư vấn pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính như thế nào?
Trả lời:
* Điều 5 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về Tư vấn pháp luật quy định Trung tâm tư vấn pháp luật được thành lập khi có các điều kiện như sau:
“1. Có ít nhất hai tư vấn viên pháp luật hoặc tư vấn viên pháp luật và một luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hai luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động.
2. Có trụ sở làm việc của Trung tâm.”
* Điều 10 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 quy định Tư vấn pháp luật miễn phí như sau: “Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức chủ quản. Nhà nước khuyến khích Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí cho người nghèo và các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật”.
* Điều 11 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 quy định Tư vấn pháp luật có thù lao như sau:
“1. Ngoài hoạt động tư vấn pháp luật miễn phí cho các đối tượng quy định tại Điều 10 của Nghị định này, Trung tâm tư vấn pháp luật được thu thù lao đối với cá nhân, tổ chức khác có yêu cầu tư vấn pháp luật để bù đắp chi phí cho hoạt động của Trung tâm.
2. Việc thu thù lao của Trung tâm tư vấn pháp luật do tổ chức chủ quản quyết định. Trong trường hợp Trung tâm tư vấn pháp luật được thu thù lao thì tổ chức chủ quản có trách nhiệm quy định về mức thù lao.
3. Trung tâm tư vấn pháp luật có trách nhiệm niêm yết mức thù lao tại trụ sở của Trung tâm và chấp hành quy định của pháp luật về tài chính.”
Khoản 2 Điều 9, khoản 5 Điều 4 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, quy định như sau:
“2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Không niêm yết mức thù lao tư vấn pháp luật tại trụ sở;
b) Không báo cáo với cơ quan có thẩm quyền về tổ chức và hoạt động định kỳ hằng năm hoặc khi được yêu cầu; không lập, quản lý, sử dụng sổ sách, biểu mẫu theo quy định;
c) Không thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền khi thay đổi nội dung đăng ký hoặc chấm dứt hoạt động của trung tâm tư vấn pháp luật; thay đổi giám đốc trung tâm, trưởng chi nhánh, tư vấn viên pháp luật, luật sư; thành lập hoặc chấm dứt hoạt động của chi nhánh của trung tâm tư vấn pháp luật;
d) Không có biển hiệu hoặc sử dụng biển hiệu không đúng nội dung giấy đăng ký hoạt động;
đ) Cho người không phải là tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật của trung tâm tư vấn pháp luật, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho trung tâm để thực hiện tư vấn pháp luật dưới danh nghĩa của trung tâm tư vấn pháp luật;
e) Cử người không phải là luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho trung tâm tư vấn pháp luật tham gia tố tụng để bào chữa, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu tư vấn pháp luật;
g) Tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy đăng ký hoạt động của trung tâm tư vấn pháp luật;
h) Thực hiện tư vấn pháp luật khi chưa được cấp giấy đăng ký hoạt động.
5. Mức phạt tiền quy định tại các Điều 7, 8, 9, 16, 17, 24, 26, 29, 33, 39, 50, 53, 63, 71, 72, 73, 74 và 80 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP là mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức”.
Như vậy, đối chiếu với các quy định pháp luật đã nêu trên thì Trung tâm Tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn miễn phí đối với các đối tượng quy định tại Điều 10 của Nghị định 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008. Bên cạnh đó, Trung tâm tư vấn pháp luật được thực hiện tư vấn có thu thù lao đối với cá nhân, tổ chức khác có yêu cầu tư vấn pháp luật để bù đắp chi phí cho hoạt động của Trung tâm. Tuy nhiên, việc thu thù lao phải được niêm yết công khai tại trụ sở của Trung tâm và theo quy định của pháp luật và tài chính. Đối với trường hợp Trung tâm tư vấn pháp luật A không niêm yết mức thù lao tư vấn pháp luật tại trụ sở của Trung tâm là vi phạm điểm a Khoản 2 Điều 9, khoản 5 Điều 4 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, bị xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh