Mới đây em mới biết công việc mà em ký kết và thực hiện hợp đồng lao động với doanh nghiệp bị pháp luật cấm, đó là do doanh nghiệp không được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê. Hợp đồng lao động...
Trả lời
Khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư năm 2020 quy định cấm các hoạt động đầu tư kinh doanh sau đây:
“a) Kinh doanh các chất ma túy quy định tại Phụ lục I của Luật này;
b) Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật quy định tại Phụ lục II của Luật này;
c) Kinh doanh mẫu vật các loài thực vật, động vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng, thủy sản nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục III của Luật này;
d) Kinh doanh mại dâm;
đ) Mua, bán người, mô, xác, bộ phận cơ thể người, bào thai người;
e) Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người;
g) Kinh doanh pháo nổ;
h) Kinh doanh dịch vụ đòi nợ”.
Như vậy, kinh doanh dịch vụ đòi nợ là hoạt động pháp luật quy định cấm đầu tư kinh doanh. Cho nên, nếu doanh nghiệp và bạn giao kết hợp đồng, với công việc đòi nợ thuê như bạn đề nghị tư vấn, hợp đồng này thuộc trường hợp vô hiệu toàn bộ. Bởi vì, theo khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2019, hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ trong trường hợp sau đây:
“a) Toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật;
b) Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này;
c) Công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm”.
Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật này, “quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động được giải quyết theo quy định của pháp luật”.
Hướng dẫn cụ thể về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật hoặc công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm, Điều 11 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định:
“1. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động mới theo đúng quy định của pháp luật.
2. Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi giao kết hợp đồng lao động mới thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định này.
3. Trường hợp hai bên không giao kết hợp đồng lao động mới thì:
a) Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo khoản 2 Điều này;
c) Người sử dụng lao động trả cho người lao động một khoản tiền do hai bên thỏa thuận nhưng cứ mỗi năm làm việc ít nhất bằng một tháng lương tối thiểu vùng theo tháng áp dụng đối với địa bàn người lao động làm việc do Chính phủ quy định tại thời điểm quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Thời gian làm việc của người lao động để tính trợ cấp là thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu xác định theo điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định này;
d) Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc đối với các hợp đồng lao động trước hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 8 Nghị định này, nếu có.
4. Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật hoặc công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự”.
Lưu ý, khi hợp đồng vô hiệu toàn bộ do công việc giao kết là công việc mà pháp luật cấm như trường hợp đòi nợ thuê, hai bên ký kết hợp đồng mới phải đảm bảo công việc giao kết pháp luật không cấm thì hợp đồng lao động mới mới có hiệu lực pháp luật. Về chế độ được hưởng, bạn có thể nghiên cứu quy định nêu trên để xác định cụ thể.
Doanh nghiệp ký kết hợp đồng vô hiệu có trách nhiệm trả cho bạn một khoản tiền do hai bên thỏa thuận, theo nguyên tắc cứ mỗi năm làm việc ít nhất bằng một tháng lương tối thiểu vùng theo tháng áp dụng đối với địa bàn người lao động làm việc do Chính phủ quy định tại thời điểm quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.
Thời gian làm việc của bạn để tính trợ cấp là thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu xác định theo điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định này, đó là: “Tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã trực tiếp làm việc; thời gian thử việc; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được người sử dụng lao động trả lương theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; thời gian nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật mà được người sử dụng lao động trả lương; thời gian ngừng việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 111, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo Điều 112, Điều 113, Điều 114, khoản 1 Điều 115; thời gian thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao động theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 176 thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo Điều 128 của Bộ luật lao động”.
Tóm lại, khoản tiền tối thiểu mà bạn được nhận từ doanh nghiệp là cứ mỗi năm làm việc ít nhất bằng một tháng lương tối thiểu vùng. Thời gian làm việc của bạn để tính trợ cấp là thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú