Chồng tôi tính cả nể lại ham vui nên rất hay nghe theo tiếng gọi rủ rê quán xá của bạn bè mà lại say lướt khướt đêm muộn mới về nhà. Tôi rất lo lắng bởi chồng tôi còn lái xe ô tô mà đi ngoài đường...
Chồng tôi tính cả nể lại ham vui nên rất hay nghe theo tiếng gọi rủ rê quán xá của bạn bè mà lại say lướt khướt đêm muộn mới về nhà. Tôi rất lo lắng bởi chồng tôi còn lái xe ô tô mà đi ngoài đường trong tình trạng say rượu, bia thì thật quá nguy hiểm không chỉ cho bản thân mà còn cả những người khác trên đường. Tôi nhiều lần đã khuyên can nhưng chồng tôi không nghe còn bỡn cợt như thể việc đó là việc bình thường của cánh mày râu và phụ nữ nên quen sống chung với lũ. Tôi muốn hỏi pháp luật có quy định như thế nào để tôi có thể nói cho chồng mình hiểu được không?
Trả lời:
Đối với câu hỏi của bạn, thì ngày 14/06/2019, Quốc hội đã ban hành Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia số 44/2019/QH14 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2020), theo đó, tại Điều 34 Luật này đã quy định về trách nhiệm của gia đình trong việc phòng, chống tác hại của rượu, bia như sau:
“Điều 34. Trách nhiệm của gia đình trong phòng, chống tác hại của rượu, bia
1. Giáo dục, giám sát, nhắc nhở thành viên chưa đủ 18 tuổi không uống rượu, bia, các thành viên khác trong gia đình hạn chế uống rượu, bia; động viên, giúp đỡ người nghiện rượu, bia trong gia đình cai nghiện rượu, bia.
2. Hướng dẫn các thành viên trong gia đình kỹ năng từ chối uống rượu, bia; kỹ năng nhận biết, ứng xử, xử trí khi gặp người say rượu, bia, người nghiện rượu, bia và thực hiện các biện pháp phòng, chống tác hại của rượu, bia.
3. Tham gia với các cơ quan, tổ chức và cộng đồng thực hiện phòng, chống tác hại của rượu, bia.”
Trên cơ sở quy định vừa nêu, người vợ phải có trách nhiệm nhắc nhở chồng mình hạn chế việc uống rượu, bia và đề xuất định hướng cho chồng mình những cách thức để từ chối việc rủ rê, lôi kéo uống rượu, bia từ bạn bè.
Tại Khoản 1, Khoản 6 Điều 5 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia cũng đã quy định việc lôi kéo người khác uống rượu, bia và tham gia giao thông sau khi uống rượu, bia đều là các hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, cụ thể:
“Điều 5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống tác hại của rượu, bia
1. Xúi giục, kích động, lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu, bia.
6. Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.”
Ngoài ra, hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà trước đó có sử dụng rượu, bia cũng là hành vi bị nghiêm cấm theo Khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, cụ thể:
“Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm
8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.
Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.”
Như vậy, căn cứ theo các quy định của pháp luật, trường hợp người chồng của bạn vẫn tiếp tục lái xe ô tô sau khi uống rượu, bia là hành vi trái pháp luật và khi bị lực lượng chức năng yêu cầu dừng phương tiện và kiểm tra bằng máy đo nồng độ cồn chuyên dụng thì tùy vào mức độ định lượng nồng độ cồn do máy đo ghi nhận tại thời điểm kiểm tra (theo tham số miligam/100 mililít máu hoặc miligam/1 lít khí thở), chồng bạn sẽ bị lực lượng chức năng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính với mức chế tài căn cứ tại Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 (có hiệu lực từ ngày 01/8/2016) của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, theo đó:
“Điều 5. Xử phạt người điều khiển, người được chở trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ
6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở;
8. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;
9. Phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;”
Ngoài việc bị xử phạt từ 2 triệu đồng đến 18 triệu đồng đối với lỗi này thì chồng bạn sẽ còn bị áp dụng hình thức phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe theo từng mức nồng độ cồn với thời gian thu giữ quy định tại Khoản 12 Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP, theo đó:
- Đối với trường hợp “Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở”: Người điều khiển xe bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng (theo Điểm b, Khoản 12, Điều 5);
- Đối với trường hợp “Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở”: Người điều khiển xe bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng (theo Điểm d, Khoản 12, Điều 5);
- Đối với trường hợp “Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở”: Người điều khiển xe bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 04 tháng đến 06 tháng (theo Điểm đ, Khoản 12, Điều 5).
Vinh Hiển
Lê Sơn Tùng