Vợ tôi đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng và được phép đi sớm về muộn 01 giờ so với người lao động khác. Giả sử cô ấy đi làm đủ thì tính tiền lương làm thêm giờ như thế nào?
Trả lời
Theo khoản 4 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019, “Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút, trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động”.
Như vậy, trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc và được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
Trường hợp lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết, theo khoản 2 của Điều này, “thì được người sử dụng lao động chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.
Tóm lại, lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con sẽ được nghỉ 01 giờ làm việc và giảm 01 giờ làm việc, thời gian nghỉ này vẫn được hưởng nguyên. Trong đó:
- Nghỉ 60 phút làm việc theo quy định chung tại khoản 4 Điều 137;
- Giảm 01 giờ làm việc theo theo quy định tại khoản 2 Điều 137.
Nếu đã được chuyển làm công việc khác nhẹ hơn thì không được giảm bớt 01 giờ làm việc nữa. Lao động nữ chỉ được hưởng giảm 60 phút làm việc theo khoản 4 Điều 137 nêu trên.
Hướng dẫn cụ thể nội dung này, điểm a, điểm b khoản 4 Điều 80 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định:
“a) Lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi có quyền được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động;
b) Trường hợp lao động nữ có nhu cầu nghỉ linh hoạt hơn so với quy định tại điểm a khoản này thì người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động để được bố trí nghỉ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ”.
Pháp luật hiện nay khuyến khích người sử dụng lao động lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc, nhu cầu của lao động nữ và khả năng của người sử dụng lao động. Trường hợp người sử dụng lao động sử dụng từ 1.000 người lao động nữ trở lên thì phải lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc. Đồng thời, khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ nuôi con từ 12 tháng tuổi trở lên vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc. Thời gian nghỉ để vắt, trữ sữa mẹ do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động.
Theo điểm c khoản 4 Điều này, “trường hợp lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý để người lao động làm việc thì ngoài tiền lương được hưởng theo quy định tại điểm a khoản này, người lao động được trả thêm tiền lương theo công việc mà người lao động đã làm trong thời gian được nghỉ”.
Như vậy, đối với chế độ nghỉ 60 phút làm việc chung cho các lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi, khi không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý thì ngoài hưởng 100% lương của 01 giờ được nghỉ thì lao động nữ được trả 100% lương cho 01 giờ làm việc này.
Đối với chế độ giảm thêm 01 giờ làm việc do làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con thì không có quy định lao động nữ được trả lương 100% như trường hợp trên.
Căn cứ quy định nêu trên, làm việc trong thời gian được nghỉ 60 phút khi đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi lao động nữ được trả 200% lương. Đây là chế định bảo vệ thai sản của pháp luật lao động, không phải chế định làm thêm giờ.
Theo khoản 1 Điều 107 Bộ luật Lao động năm 2019, "Thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động”.
Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:
- Phải được sự đồng ý của người lao động;
- Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng;
- Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm và không quá 300 giờ trong 01 năm trong một số ngành, nghề, công việc như sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản; sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước...
Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm theo khoản 1 Điều 98 của Bộ luật này như sau:
“a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;
b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;
c) Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày”.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú