Năm 1971 gia đình chú tôi chuyển vào miền Nam sinh sống, cho nên đã hiến tặng cho chính quyền lúc đó 560 m2 đất vườn để xây dựng Trường mầm non của xã. Đến nay, Trường mầm non của xã đã được xây...
Không biết, là gia đình có công với cách mạng, chú tôi có quyền yêu cầu chính quyền hiện nay trả lại 560 m2 đất này để sau khi chú tôi nghỉ hưu về quê trực tiếp canh tác, trồng cây hay không? UBND xã thông báo sẽ đề xuất giao đất có thu tiền sử dụng đất cho gia đình chú tôi khi quay về sinh sống tại địa phương, nếu quỹ đất còn và theo hạn mức thì có phải là đổi đất lấy đất hay không?
Trả lời
Theo Điều 53 Hiến pháp Nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, “đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ. Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật. Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.
Nhà nước bảo hộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người sử dụng đất. Người sử dụng đất hợp pháp có quyền chuyển nhượng, cho tặng, thừa kế, chuyển đổi… quyền sử dụng đất.
Nếu đúng như thông tin của bạn, nếu đã hiến tặng quyền sử dụng 560 m2 đất cho Chính quyền để làm nhà trẻ từ năm 1981, gia đình chú của bạn sẽ không có quyền đòi lại thửa đất này. Bởi vì, theo khoản 5 Điều 26 của Luật Đất đai năm 2013, “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Nếu có khó khăn về đất ở hoặc canh tác, gia đình chú bạn có thể đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở quỹ đất tại địa phương xem xét hỗ trợ, giao đất. Tùy từng loại đất mà việc giao đất có thu hoặc không thu tiền sử dụng đất.
Điều 54 của Luật này quy định Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
“1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này;
2. Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 55 của Luật này;
3. Tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp;
4. Tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo dự án của Nhà nước;
5. Cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp; cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này”.
Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp được quy định tại Điều 55 của Luật này, bao gồm:
“1. Hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở;
2. Tổ chức kinh tế được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê;
3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê;
4. Tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng”.
Nếu được giao đất, căn cứ quy định nêu trên để xác định có phải nộp tiền sử dụng đất hay không.
Trường hợp gia đình chú của bạn thuộc đối tượng gia đình có công với Cách mạng, có thể nghiên cứu hướng dẫn về việc miễn tiền sử dụng đất được quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ: “Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với người có công với cách mạng thuộc đối tượng được miễn tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về người có công”.
Lưu ý, việc miễn tiền sử dụng đất đối với người có công với Cách mạng chỉ được thực hiện khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc cho phép miễn tiền sử dụng đất theo pháp luật về người có công.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú