Bác Anh mua một chiếc tivi LCD trị giá 15 triệu đồng tại cửa hàng điện máy, cửa hàng có cung cấp giấy bảo hành, trong đó ghi thời hạn bảo hành là 01 năm. Tuy nhiên, sau 04 tháng sử dụng, tivi có...
Tại lần đi bảo hành thứ 4 (cách thời điểm mua hàng là 10 tháng), phía trung tâm bảo hành đã từ chối sữa chữa với lý do màn hình không thể khắc phục và yêu cầu bác Anh mang tivi về. Đề nghị cho biết hành vi này có vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không? Mức phạt (nếu có) như thế nào?
Trả lời:
- Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức; Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm:
a) Thương nhân theo quy định của Luật thương mại;
b) Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh”.
- Điều 6 Luật Thương Mại 2005 quy định “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”.
- Khoản 5 Điều 21 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện như sau:
“Hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành theo thỏa thuận của các bên hoặc bắt buộc bảo hành theo quy định của pháp luật. Trường hợp hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm:
5. Đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa và trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp đã thực hiện bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện từ ba lần trở lên trong thời hạn bảo hành mà vẫn không khắc phục được lỗi”.
- Điểm d khoản 1 Điều 56 của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định hành vi vi phạm về trách nhiệm bảo hành hàng hóa như sau:
“1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với thương nhân kinh doanh hàng hóa có một trong các hành vi vi phạm sau đây trong trường hợp hàng hóa bảo hành có giá trị dưới 20.000.000 đồng:
d) Không đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa và trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp đã thực hiện bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện từ 03 lần trở lên trong thời hạn bảo hành mà vẫn không khắc phục được lỗi”.
- Điểm b Khoản 1 Điều 3 Nghị định 17/2022/NĐ-CP ngày 31/01/2022 của Chính phủ sửa đổi các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp; điện lực, an toàn đập thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; hoạt động dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí (có hiệu lực kể từ ngày 31/01/2022), quy định: Mức phạt tiền quy định tại Chương II của Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính do cá nhân thực hiện, trừ các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 68, Điều 70, khoản 6, 7, 8, 9 Điều 73 và khoản 6, 7, 8 Điều 77 của Nghị định này. Trường hợp hành vi vi phạm hành chính do tổ chức thực hiện thì phạt tiền gấp hai lần mức phạt tiền quy định đối với cá nhân.”
Theo quy định của pháp luật thì trường hợp bảo hành từ ba lần trở lên trong thời hạn bảo hành mà không khắc phục được lỗi thì người tiêu dùng có quyền đổi hàng hóa hoặc hoàn trả hàng hóa. Trường hợp bên bán không đổi hoặc không trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp nêu trên thì căn cứ điểm d khoản 1 Điều 56 của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, bên bán có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp hàng hóa bảo hành có giá trị dưới 20.000.000 đồng (mức phạt tối đa là 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng trong trường hợp hàng hóa bảo hành có giá trị từ 2.000.000.000 đồng trở lên). Mức phạt này là mức phạt đối với cá nhân, trường hợp tổ chức vi phạm mức phạt tiền gấp đôi mức phạt quy định nêu trên.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh