Ông A là Phó trưởng phòng thuộc UBND huyện H. Vợ chồng ông A sở hữu một mảnh đất, sổ tiết kiệm với tổng giá trị là 300 triệu đồng và chiếc xe máy trị giá 40 triệu. Trong kỳ kê khai tài sản vừa qua,...
Ông A là Phó trưởng phòng thuộc UBND huyện H. Vợ chồng ông A sở hữu một mảnh đất, sổ tiết kiệm với tổng giá trị là 300 triệu đồng và chiếc xe máy trị giá 40 triệu. Trong kỳ kê khai tài sản vừa qua, ông A chỉ kê khai những tài sản gồm một mảnh đất, sổ tiết kiệm mà không kê khai chiếc xe máy trên với lý do chiếc xe máy có giá trị dưới 50 triệu đồng. Xin hỏi ông A kê khai tài sản như vậy có đúng không?
Trả lời:
Tại khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định về tài sản, thu nhập phải kê khai như sau:
“Điều 35. Tài sản, thu nhập phải kê khai
1. Tài sản, thu nhập phải kê khai bao gồm:
a) Quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng;
b) Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và động sản khác mà mỗi tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng trở lên;
c) Tài sản, tài khoản ở nước ngoài;
d) Tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai.”
Tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về động sản như sau: “ Động sản là những tài sản không phải là bất động sản”.
Tại khoản 2 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định Bất động sản như sau bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; nài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; nài sản khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, xe máy theo quy định là động sản. Tuy nhiên, chiếc xe máy có giá trị dưới 50 triệu đồng nên ông A không kê khai tài sản là chiếc xe máy, chỉ kê khai tài sản gồm mảnh đất, sổ tiết kiệm là đúng với quy định của pháp luật.
Nguyễn Tuấn
Admin PBGDPL