Khi triển khai yêu cầu cài đặt mã số định danh điện tử mức độ 2, rà soát hồ sơ nhân sự chúng tôi mới phát hiện một số người lao động trước đây đã sử dụng giấy tờ tùy thân của người khác để ký hợp...
Xin hỏi các anh chị, hợp đồng đã ký có bị vô hiệu và phải ký lại trong trường hợp nêu trên hay không?
Trả lời
Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động như sau:
“1. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.
2. Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội”.
Về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người lao động về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động yêu cầu.
Tương ứng, theo khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này, “người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”.
Căn cứ các quy định trên, trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này.
Vì vậy, hợp đồng lao động đã ký kết thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ. Bởi vì, khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019 quy định hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ trong trường hợp sau đây:
“a) Toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật;
b) Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này;
c) Công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm”.
Tòa án nhân dân có quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.
Theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật này, “khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động được giải quyết theo quy định của pháp luật; trường hợp do ký sai thẩm quyền thì hai bên ký lại”.
Hợp đồng lao động bị vô hiệu toàn bộ. Về nguyên tắc, hợp đồng không có giá trị thực hiện kể từ ngày ký kết. Hai bên có thể thỏa thuận ký lại hợp đồng lao động với yêu cầu đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc giao kết hợp đồng, trong đó có nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 và nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật lao động năm 2019 được nêu trên.
Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi hợp đồng lao động được ký lại, theo khoản 2 Điều 10 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ, thực hiện như sau:
“a) Nếu quyền, lợi ích của mỗi bên trong hợp đồng lao động không thấp hơn quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động được thực hiện theo nội dung hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu;
b) Nếu hợp đồng lao động có nội dung về quyền, nghĩa vụ, lợi ích của mỗi bên vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến phần nội dung khác của hợp đồng lao động thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động thực hiện theo khoản 2 Điều 9 Nghị định này;
c) Thời gian người lao động làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian làm việc của người lao động cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động”.
Trường hợp không ký lại hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động; quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này nêu trên; giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật…
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú