Tôi là chủ một cửa hàng hoa tươi, chuyên bán online. Đối với những đơn hàng cho đám cưới, hội nghị, tiệc sinh nhật…, trị giá giao dịch có thể từ chục triệu đến trăm triệu. Trong trường hợp đó, có...
Trong trường hợp đó, có nhất thiết giữa tôi và người mua phải xác lập hợp đồng bằng văn bản hay không?
Trả lời
Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:
“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.
Hình thức giao dịch dân sự được quy định cụ thể tại Điều 119 của Bộ luật này. Đó là:
“1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó”.
Căn cứ các quy định nêu trên, giao dịch dân sự, nếu đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật, bao gồm hình thức của giao dịch trong những trường hợp cụ thể, thì có hiệu lực pháp luật. Giao dịch dân sự bắt buộc phải được lập thành văn bản để ghi nhận thỏa thuận giữa các bên như giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, giao dịch cho vay tài sản…
Như vậy, hình thức giao dịch bằng văn bản chỉ là điều kiện có hiệu lực của giao dịch khi pháp luật quy định. Đồng nghĩa, giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ các trường hợp tại Điều 129 Bộ luật này như sau:
“1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng. Hợp đồng có thể có các nội dung đối tượng của hợp đồng; số lượng, chất lượng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phương thức giải quyết tranh chấp.
Hợp đồng mua bán tài sản, theo Điều 430 của Bộ luật này, “là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.
Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và luật khác có liên quan”.
Về nguyên tắc, hàng hóa mua bán giữa bạn và người khác là hoa tươi, pháp luật dân sự không bắt buộc hai bên phải ký kết hợp đồng bằng văn bản. Tuy nhiên, với các giao dịch có giá trị lớn, bạn cần tuân thủ quy định khác của pháp luật, ví dụ pháp luật về kế toán, thanh toán… Bên cạnh đó, khi giao kết hợp đồng bằng văn bản, thỏa thuận được ghi nhận cụ thể, chi tiết sẽ là căn cứ để giải quyết tranh chấp (nếu có) phát sinh.
Thu Hường
admin admin