Hôm vừa rồi đi từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội, tại sân bay tôi chứng kiến có trường hợp Hãng hàng không từ chối cho làm thủ tục lên máy bay một hành khách, mặc dù họ có vé, đã check-in, hành lý...
Xin hỏi lý do mà Hãng hàng không nêu ra có phù hợp hay không? Tiền vé máy bay đã thanh toán hoàn trả cho hành khách bị từ chối như thế nào?
Trả lời
Điều 146 Luật Hàng không dân dụng năm 2006 quy định về việc từ chối vận chuyển hành khách có vé và đã được xác nhận chỗ trên chuyến bay hoặc đang trong hành trình như sau:
“1. Do tình trạng sức khoẻ của hành khách mà người vận chuyển nhận thấy việc vận chuyển hoặc vận chuyển tiếp sẽ gây nguy hại cho hành khách đó, cho những người khác trong tàu bay hoặc gây nguy hại cho chuyến bay.
2. Để ngăn ngừa lây lan dịch bệnh.
3. Hành khách không chấp hành quy định về bảo đảm an toàn hàng không, an ninh hàng không, khai thác vận chuyển hàng không.
4. Hành khách có hành vi làm mất trật tự công cộng, uy hiếp an toàn bay hoặc gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác.
5. Hành khách trong tình trạng say rượu, bia hoặc các chất kích thích khác mà không làm chủ được hành vi.
6. Vì lý do an ninh.
7. Theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Như vậy, vì lý do an ninh, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình triển khai thực hiện công tác bảo vệ an ninh, quốc phòng theo quy định của pháp luật có quyền từ chối vận chuyển hành khách có vé và đã được xác nhận chỗ trên chuyến bay hoặc đang trong hành trình.
Hướng dẫn cụ thể nội dung này, Điều 17 Nghị định số 92/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ quy định Hãng hàng không có quyền từ chối vận chuyển các hành khách sau đây vì lý do an ninh:
“1. Hành khách quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 16 của Nghị định này.
2. Trường hợp không đáp ứng được quy định tại khoản 3 Điều 16 của Nghị định này.
3. Trường hợp hành khách bị từ chối nhập cảnh nhưng không tự nguyện về nước không do hãng hàng không vận chuyển vào Việt Nam.
4. Theo yêu cầu của nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài”.
Điều 16 Nghị định này quy định về việc vận chuyển đối tượng tiềm ẩn uy hiếp an ninh hàng không như sau:
“1. Đối tượng tiềm ẩn uy hiếp an ninh hàng không bao gồm:
a) Người mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình;
b) Người bị từ chối nhập cảnh nhưng không tự nguyện về nước;
c) Bị can, bị cáo, phạm nhân, người bị trục xuất, dẫn độ, người bị bắt theo quyết định truy nã.
2. Đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều này không được cung cấp đồ uống có cồn, chất kích thích trong suốt chuyến bay; tổ bay phải giám sát liên tục trong suốt chuyến bay và áp dụng các biện pháp bổ sung cần thiết khác.
3. Đối tượng quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều này khi vận chuyển phải có người của cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp giải; số lượng hành khách quy định tại Khoản 1 Điều này được vận chuyển trên cùng một chuyến bay do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định.
4. Đối tượng quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này khi vận chuyển về nước, hãng hàng không phải bố trí nhân viên an ninh áp giải trên chuyến bay.
5. Không vận chuyển hành khách được quy định tại Khoản 1 Điều này trên các chuyến bay có đối tượng cảnh vệ”.
Một trong các nghĩa vụ của hành khách, theo khoản 1 Điều 148 của Hàng không dân dụng năm 2006 là “thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn hàng không, an ninh hàng không”.
Căn cứ quy định nêu trên, người mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình thuộc đối tượng tiềm ẩn uy hiếp an ninh hàng không và về nguyên tắc có thể bị Hãng hàng không từ chối vận chuyển.
Theo khoản 3 Điều 147 của Luật này, nếu bị từ chối vận chuyển, “hành khách được nhận lại tiền vé hoặc số tiền tương ứng của phần vé chưa sử dụng, sau khi đã trừ phí và tiền phạt được ghi trong Điều lệ vận chuyển”.
Bị từ chối vận chuyển, hành khách được nhận lại tiền vé sau khi đã trừ phí và tiền phạt được ghi trong Điều lệ vận chuyển. Có nghĩa là, số tiền vé được nhận lại bao nhiêu còn phụ thuộc vào mức phí ghi trong Điều lệ vận chuyển của Hãng hàng không.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú