Anh P là chủ doanh nghiệp tư nhân M. Do bị tai nạn giao thông, anh P mất đột ngột và để lại di sản thừa kế. Người thân của anh P hiện gồm vợ anh là chị Tiên , 1 con trai lên 7 tuổi, cha mẹ đẻ và 2...
để lại lớn nên các em của anh P yêu cầu phải chia thừa kế cho 6 người gồm: cha mẹ đẻ, 2 người em ruột, chị Tiên (vợ anh P) và bé trai 7 tuổi. Đề nghị cho biết yêu cầu của 02 người em anh P trong việc chia di sản của anh P như vậy có phù hợp với quy định của pháp luật không?
Trả lời:
- Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết như sau:
“1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.
2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.
4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác”.
- Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về di sản như sau: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
- Khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
“a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
- Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”
Theo quy định của pháp luật, khi một bên vợ hoặc chồng chết nếu có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, phần tài sản của vợ, chồng chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trong trường này, khi người chồng mất không để lại di chúc nên khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản sẽ được chia đôi (1/2 tài sản thuộc là tài sản của người vợ; ½ tài sản thuộc phần di sản của người chồng đã mất). Theo đó, ½ tài sản là di sản của người chồng đã mất sẽ được chia thừa kế theo pháp luật, được chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất: gồm người vợ, con trai 7 tuổi và cha, mẹ đẻ của anh P. Hai người em ruột không được chia thừa kế do thuộc hàng thừa kế thứ hai.
Đỗ Như Quỳnh