Tôi là dì ruột của cháu H (9 tuổi). Do bố mẹ cháu mất vì tai nạn giao thông nên hiện nay cháu đang sống với ông ngoại (là người giám hộ của cháu H). Vì ông ngoại của cháu tuổi cao, sức yếu nên tôi...
Tôi là dì ruột của cháu H (9 tuổi). Do bố mẹ cháu mất vì tai nạn giao thông nên hiện nay cháu đang sống với ông ngoại (là người giám hộ của cháu H). Vì ông ngoại của cháu tuổi cao, sức yếu nên tôi muốn xin nhận cháu làm con nuôi để chăm sóc, nuôi dạy cháu được tốt hơn, tuy nhiên chú ruột của cháu H cũng muốn xin nhận cháu làm con nuôi. Xin hỏi trong trường hợp cả tôi và chú ruột đều muốn nhận cháu làm con nuôi thì ai sẽ được nhận cháu làm con nuôi? Thủ tục nhận con nuôi được quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 5 Luật Nuôi con nuôi quy định thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế cụ thể như sau:
“1. Thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế được thực hiện quy định sau đây:
a) Cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;
b) Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước;
c) Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;
d) Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
đ) Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài.
2. Trường hợp có nhiều người cùng hàng ưu tiên xin nhận một người làm con nuôi thì xem xét, giải quyết cho người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi tốt nhất.”
Mặt khác, tại Điều 21 Luật Nuôi con nuôi quy định sự đồng ý cho làm con nuôi như sau:
“1. Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó.
2. Người đồng ý cho làm con nuôi quy định tại khoản 1 Điều này phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ tư vấn đầy đủ về mục đích nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con sau khi người đó được nhận làm con nuôi.
3. Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
4. Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày.”
Như vậy, theo quy định trên thì cháu H hiện đã 9 tuổi và đang sống cùng ông ngoại - là người giám hộ cho cháu H do vậy, việc cháu H được nhận làm con nuôi của ai phụ thuộc vào sự đồng ý của ông ngoại và của cháu H, đồng thời có xem xét giữa dì ruột và chú ruột của cháu (những người cùng hàng ưu tiên) xem ai là người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu tốt nhất.
Về hồ sơ nhận con nuôi được quy định tại Điều 17, Điều 18 Luật Nuôi con nuôi, cụ thể gồm các giấy tờ sau:
- Đối với người nhận con nuôi:
+ Đơn xin nhận con nuôi (theo mẫu);
+ Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;
+ Phiếu lý lịch tư pháp;
+ Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;
+ Giấy khám sức khoẻ do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp (nếu nhận trẻ em là cháu ruột thì không cần giấy tờ này).
- Đối với trẻ em được nhận làm con nuôi:
+ Giấy khai sinh;
+ Giấy khám sức khoẻ do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;
+ Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;
+ Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất năng lực hành vi dân sự.
Về thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi được quy định tại Điều 2 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 theo đó, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi. Trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi hoặc có sự thỏa thuận giữa người nhận con nuôi với cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã thường trú của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.
Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ (khoản 2 Điều 19 Luật Nuôi con nuôi).
Admin PBGDPL