Sau khi kết hôn, anh Tài yêu cầu vợ là chị Hải ở nhà nội trợ, chăm sóc con nhỏ và bố mẹ chồng già yếu. Thấy yêu cầu của chồng cũng hợp lý nên chị Hải nhất trí ở nhà nội trợ, dành thời gian để chăm...
mẹ chồng chị Hải thường xuyên đay nhiếc chị Hải là không chịu làm ăn, chỉ ăn bám chồng, đồng thời cũng nói rằng tài sản trong nhà là của anh Tài hết, chị Hải không có quyền gì đối với số tài sản mà anh Tài làm ra. Đề nghị cho biết, ý kiến của mẹ chồng chị Hải, tài sản trong nhà là của anh Tài, chị Hải không có quyền gì đối với số tài sản mà anh Tài làm ra là đúng hay sai? Trong trường hợp này, tài sản vợ chồng anh Tài và chị Hải được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
- Khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định:“Công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”.
- Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:“Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”.
- Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định những tài sản sau đây là tài sản chung của vợ chồng:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.
Theo các quy định trên, tài sản do anh Tài làm ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, chị Hải thực hiện công việc nội trợ, chăm sóc gia đình được coi như lao động có thu nhập và có quyền bình đẳng với anh Tài trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Theo đó, ý kiến của mẹ chồng chị Hải, tài sản trong nhà là của anh Tài, chị Hải không có quyền gì đối với số tài sản mà anh Tài làm ra là sai.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh